Ngày 14/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bước chuyển lịch sử từ tư duy
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên; hệ thống thể chế, chính sách từng bước hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá; kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường; đời sống người dân vùng biển được cải thiện; quốc phòng, an ninh đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước.
Do đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu khẩn trương xây dựng nghị quyết mới, trọng tâm là chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Nghị quyết mới không chỉ trả lời câu hỏi phát triển các ngành kinh tế biển như thế nào, mà phải trả lời câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ khai thác, quản trị và phát huy toàn bộ không gian biển quốc gia thế nào để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước trong nhiều thập niên tới. Nghị quyết cũng phải làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ 21, xác định rõ vai trò của biển trong thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, 2045 và những năm tiếp theo.
Cần xây dựng chiến lược mới về không gian phát triển biển quốc gia mạnh
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường Đại học Sài Gòn, cho rằng yêu cầu xây dựng nghị quyết mới với tầm nhìn và tư duy mới là quá đúng, quá trúng trong bối cảnh mới. Việt Nam có bờ biển dài và đẹp là lợi thế trời cho, nhưng thời gian qua khai thác chưa hết lợi thế từ không gian biển. Việc xây dựng chiến lược mới với tầm nhìn, mục tiêu cụ thể sẽ tạo động lực mới cho kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao.
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh dân số đông, nhu cầu phát triển cao, biển và đại dương được xác định là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về lương thực, thực phẩm, năng lượng và nguyên liệu. Hướng ra biển là xu thế tất yếu từ thế kỷ 21. Ông bày tỏ vui mừng trước tư duy mới, tầm nhìn xa, sâu rộng và cách tiếp cận toàn diện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về chiến lược phát triển biển đảo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Một hình dung về Việt Nam năm 2045
PGS-TS Phạm Văn Song, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Miền Đông, hình dung Việt Nam năm 2045 là một quốc gia biển hiện đại với các siêu cảng kết nối toàn cầu, các đô thị biển thông minh trải dài từ Bắc vào Nam, hệ thống giao thông ven biển và xuyên biển đồng bộ, trung tâm năng lượng gió ngoài khơi của châu Á, trung tâm logistics của Đông Nam Á, và có năng lực quản trị, bảo vệ không gian biển thuộc nhóm hàng đầu khu vực. Biển không chỉ là nơi bắt đầu của đường chân trời, mà trở thành không gian phát triển mới của dân tộc. Hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ 21 không phải là đất nước "có biển", mà là đất nước mà mọi động lực phát triển quan trọng nhất đều hướng ra biển, kết nối với biển và được nâng đỡ bởi biển.
Theo PGS-TS Phạm Văn Song, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về chuyển từ "tư duy kinh tế biển" sang "tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh" là bước phát triển rất quan trọng về nhận thức chiến lược. Tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh rộng hơn nhiều: biển không còn được nhìn như một ngành kinh tế, mà được xem là không gian sinh tồn, không gian phát triển và không gian chiến lược của quốc gia. Biển không chỉ tạo ra GDP mà còn quyết định vị thế địa chính trị, an ninh quốc phòng, mạng lưới logistics quốc gia, kết nối quốc tế, không gian đô thị hóa tương lai, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
Để biển trở thành sức mạnh mới của Việt Nam
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi phân tích: Môi trường biển luôn động và mang tính xuyên biên giới, tài nguyên biển phân bố theo không gian. Các hệ thống tài nguyên biển là hệ đa dụng, là đối tượng khai thác của nhiều ngành, nhưng thường được quản lý theo ngành, dẫn đến xung đột lợi ích. Đây là hậu quả của tư duy phát triển kinh tế biển truyền thống, dựa vào khai thác suy kiệt nguồn vốn tự nhiên, ưu tiên lợi ích ngành. Thực trạng là xuất khẩu sản phẩm thô hàm lượng công nghệ thấp, chú trọng khai thác tài nguyên vật chất mà bỏ qua giá trị dịch vụ của các hệ thống không gian biển.
Ngược lại, tư duy không gian biển là cách tiếp cận quản lý biển theo không gian dựa vào hệ sinh thái, sử dụng các công cụ như quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển để xử lý xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn sớm, tối ưu hóa lợi ích các bên liên quan, bảo đảm lợi ích giữa phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng và tính bền vững của các hệ thống không gian biển. Từ đó, tổ chức lại không gian kinh tế biển đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và bền vững dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi kỳ vọng: Quan điểm, chủ trương phát triển và tầm nhìn mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sẽ được hiện thực hóa trong nghị quyết mới, tạo bước ngoặt lịch sử, viết tiếp chương phát triển mới của Việt Nam với quy mô lớn hơn, tầm vóc cao hơn, hùng cường hơn.
PGS-TS Phạm Văn Song đặt vấn đề: Khi nghị quyết mới yêu cầu xác định rõ "hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ 21", thì đây là yêu cầu rất quan trọng, bởi muốn đi đến đâu trước hết phải hình dung được đích đến. Trong quá khứ, quốc gia biển mạnh thường gắn với đội tàu lớn, hạm đội hùng mạnh hay sản lượng khai thác hải sản cao. Nhưng trong thế kỷ 21, khái niệm đã thay đổi: một quốc gia biển mạnh không chỉ sống nhờ biển, mà phát triển nhờ biển, giàu lên từ biển và khẳng định vị thế quốc gia thông qua biển. Cụ thể, đó phải là quốc gia có không gian phát triển hướng biển, sở hữu hệ thống cảng biển và logistics hàng đầu khu vực, có các đô thị biển đẳng cấp quốc tế, dẫn đầu về năng lượng biển, mạnh về khoa học và công nghệ biển, có năng lực quản trị và bảo vệ biển hiện đại, và biển trở thành trung tâm của nền kinh tế.
Kỷ nguyên chinh phục không gian biển
PGS-TS Phạm Văn Song cho rằng một quốc gia biển mạnh phải được hình thành từ nhiều trụ cột: kinh tế hàng hải và logistics biển, siêu đô thị biển và đô thị lấn biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, biển công nghệ cao (đóng tàu thế hệ mới, công trình ngoài khơi, robot dưới nước...), kinh tế số biển và dữ liệu đại dương, kinh tế sinh học biển, du lịch biển thế hệ mới, và khoa học, công nghệ, công nghiệp lấn biển. "Có thể nói, thế kỷ trước chúng ta chinh phục đồng bằng và miền núi, thế kỷ này chúng ta phải học cách chinh phục không gian biển", ông nhấn mạnh.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, hầu hết mỗi tỉnh đều có biển, tạo điều kiện phát triển kinh tế biển thuận lợi hơn. Ví dụ, TP.HCM xác định kinh tế biển là một trong 5 động lực tăng trưởng hai con số, với các dự án như lấn biển Cần Giờ, cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, cầu Cần Giờ, đường ven biển, cầu vượt biển nối Vũng Tàu. Khi có chiến lược quốc gia, các địa phương sẽ xác định lĩnh vực trọng tâm phù hợp. Quan trọng hơn, phát triển kinh tế biển phải gắn liền với an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền tổ quốc. "Singapore là quốc gia nhỏ nhưng phát triển mạnh nhờ biển. Chúng ta cần ưu tiên phát triển kinh tế biển, từ kinh tế hàng hải đến khai thác nuôi trồng thủy hải sản, năng lượng, du lịch, khoáng sản... Khai thác lợi thế trời cho này sẽ tạo động lực quan trọng để kinh tế quốc gia tăng trưởng cao và bền vững", ông chia sẻ.



