Ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu sự thay đổi trong tư duy phát triển: không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo tại hội nghị triển khai nghị quyết, nhấn mạnh mục tiêu cao hơn, yêu cầu thực chất hơn trong thu hút đầu tư nước ngoài.
Chuyển đổi tư duy từ thu hút vốn sang nâng cao nội lực
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Vốn rất quan trọng, nhưng không phải chỉ có vốn mà rất cần công nghệ nước ngoài”. Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, thiếu vốn, nay đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 180% GDP, trong đó FDI chiếm khoảng 75%. Tuy nhiên, những hạn chế như tỷ lệ nội địa hóa thấp, chuyển giao công nghệ chưa đạt kỳ vọng, nhiều dự án gia công lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, cùng với sự cạnh tranh thiếu bền vững giữa các địa phương đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới.
Mục tiêu đến năm 2030: dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Để đạt được, cần chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế, tính toán hiệu quả bằng năng suất, chất lượng vốn, trình độ công nghệ, việc làm chất lượng cao, đào tạo kỹ sư, nhà quản trị Việt Nam, kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng.
Tám nhiệm vụ trọng tâm
Tổng Bí thư Tô Lâm đề ra 8 nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện Nghị quyết. Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới tư duy về đầu tư nước ngoài, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Đồng thời, không tiếp nhận dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro an ninh.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo, phù hợp thông lệ quốc tế, xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà. Các cơ quan nhà nước chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, phục vụ doanh nghiệp.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Dự án có công nghệ tiên tiến, nghiên cứu phát triển, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng, giảm phát thải sẽ được hỗ trợ tương xứng. Dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm, có thể thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa, đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Các địa phương có khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu. Tạo điều kiện để người Việt Nam đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới: điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Coi hạ tầng là nền tảng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư: tiếp cận có mục tiêu, chuẩn bị kỹ khi làm việc với từng tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. Đồng hành với nhà đầu tư từ tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc, khuyến khích tái đầu tư.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định, có trách nhiệm. Nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Quá trình này gắn với an ninh tài chính, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro.
Phân công, phân cấp rõ ràng, tránh cạnh tranh phá vỡ quy hoạch
Tổng Bí thư yêu cầu mỗi bộ, ngành, địa phương phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng loại dự án mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện. Địa phương chủ động, sáng tạo nhưng không được phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khu vực FDI theo từng ngành, địa phương, dựa trên trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết nội địa, sử dụng đất, đóng góp ngân sách, đào tạo nhân lực, môi trường.
Cam kết môi trường đầu tư thuận lợi, đồng hành cùng nhà đầu tư
Tổng Bí thư gửi lời cảm ơn các nhà đầu tư nước ngoài đã chọn Việt Nam, đồng thời khẳng định: “Chúng tôi bảo đảm môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh, làm việc và sống an toàn, thành công ở Việt Nam.” Nghị quyết 10-NQ/TW được các nhà đầu tư hưởng ứng tích cực dù mới ban hành 22 ngày. Tổng Bí thư đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, phối hợp triển khai các đề xuất, kiến nghị của nhà đầu tư nước ngoài.
Tổng Bí thư kết luận: “Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư để cùng tạo ra giá trị mới.” Tinh thần của Nghị quyết là thu hút đầu tư nước ngoài để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ, phát triển bền vững, bao trùm và chất lượng cao, hướng tới mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.



