Trung ương quyết đổi mới mô hình phát triển, mục tiêu tăng trưởng 10%
Trung ương đổi mới mô hình phát triển, tăng trưởng 10%

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV, đã nhấn mạnh quyết tâm phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trung ương cũng quyết định ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, một vấn đề được đánh giá là “rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ”, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn.

Đổi mới mô hình phát triển bắt đầu từ khơi thông thể chế

Theo TS Nguyễn Quốc Việt, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc Trung ương ban hành nghị quyết chuyên đề về đổi mới mô hình phát triển cho thấy tư duy phát triển của Việt Nam đang có bước chuyển mạnh mẽ. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là đổi mới mô hình tăng trưởng thì nay yêu cầu đặt ra là xây dựng một mô hình phát triển tổng thể, trong đó tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao chất lượng phát triển, năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân.

Ông cho rằng sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã tích lũy những tiền đề quan trọng. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, năng lực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện và Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đây là những thành quả tạo nên “thế” và “lực” mới để đất nước bước sang giai đoạn phát triển cao hơn. Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

TS Nguyễn Quốc Việt phân tích rằng động lực tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa trên những lợi thế truyền thống như lao động chi phí thấp, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư. Năng suất lao động, hàm lượng công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa thực sự trở thành nền tảng của tăng trưởng. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhưng mức độ làm chủ công nghệ còn hạn chế. Sự liên kết giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa như kỳ vọng. Hệ quả là tăng trưởng của nền kinh tế chưa dựa nhiều vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giá trị gia tăng nội địa còn thấp và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu nếu Việt Nam không nhanh chóng hình thành các động lực tăng trưởng mới.

Cải cách thể chế là đột phá giải phóng nguồn lực

Cải cách thể chế được chuyên gia xem là khâu đột phá quan trọng nhất để khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Theo TS Nguyễn Quốc Việt, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Ông phân tích: doanh nghiệp hiện nay vẫn phải gánh chịu nhiều loại chi phí phát sinh từ sự chồng chéo của các quy định pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp cũng như những chi phí giao dịch không cần thiết. “Mục tiêu giảm khoảng 30% chi phí tuân thủ pháp luật sẽ tạo thêm nguồn lực rất lớn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất”, TS Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cải cách thể chế còn giúp chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là điều kiện quan trọng để cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp có đủ không gian đổi mới sáng tạo trước sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh mới. Theo ông, các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo hay các ngành công nghệ mới đều cần một hệ thống thể chế linh hoạt hơn để tạo lập “không gian tăng trưởng” mới. Nếu thể chế chậm đổi mới, nó sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển. “Cải cách thể chế chính là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế”, TS Nguyễn Quốc Việt khẳng định.

Bốn nghị quyết quan trọng khác được ban hành

Bên cạnh Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV còn quyết định ban hành thêm 4 Nghị quyết quan trọng khác: Nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; Nghị quyết về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; và Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Nâng cao năng suất để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

Nếu cải cách thể chế được xem là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực thì việc hình thành các động lực tăng trưởng mới chính là yếu tố quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng bền vững mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra. Theo chuyên gia kinh tế TS Cấn Văn Lực, kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy không có quốc gia nào duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư và lao động. Muốn bước sang giai đoạn phát triển mới, nền kinh tế phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ông cho biết, thời gian qua tăng trưởng của Việt Nam vẫn dựa khá lớn vào các yếu tố đầu vào truyền thống như vốn và lao động. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) lên khoảng 53-55% trong tăng trưởng GDP. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong các nghị quyết của Đảng nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo TS Cấn Văn Lực, để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam cần triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp lớn. Thứ nhất là thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới. Thứ hai là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, coi con người là trung tâm của quá trình phát triển và là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Thứ ba là tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, bao gồm hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng và hạ tầng số nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Thứ tư là tiếp tục cải cách thể chế kinh tế để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, đồng thời nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ mới của doanh nghiệp. Vấn đề thứ năm được TS Cấn Văn Lực đặc biệt lưu ý là nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực phát triển luôn có giới hạn, điều quan trọng không chỉ là huy động được nhiều nguồn vốn hơn mà còn phải phân bổ đúng vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao nhất. Đây là điều kiện để nền kinh tế vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm hiệu quả đầu tư và ổn định kinh tế vĩ mô.

Các chuyên gia đánh giá, giá trị lớn nhất được đặt ra trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là bài toán về quy mô tăng trưởng mà còn là yêu cầu đổi mới căn bản chất lượng phát triển. Tinh thần ấy cũng chính là thông điệp xuyên suốt: Trung ương quyết định xây dựng Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, không chỉ là sự điều chỉnh về tư duy tăng trưởng, mà còn là bước chuyển mang tính chiến lược nhằm kiến tạo một mô hình phát triển mới, trong đó tăng trưởng kinh tế luôn gắn với đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và mục tiêu cao nhất là không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân.