Ninh Bình đẩy mạnh chiến lược kinh tế biển, hướng tới đóng góp hơn 20% GRDP vào năm 2030
Với mục tiêu đưa tỷ trọng kinhế biển và ven biển đạt hơn 20% GRDP vào năm 2030, tỉnh Ninh Bình đang triển khai đồng bộ các giải pháp để hiện thực hóa kế hoạch này. Ngày 12/2/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU về chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, với tầm nhìn mở rộng đến năm 2045. Thời gian qua, chủ trương phát triển vùng kinh tế biển đã được các cấp, các ngành trong tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đạt được những kết quả tích cực ban đầu.
Tiềm năng và lợi thế tự nhiên của Ninh Bình
Tận dụng chiều dài gần 90 km bờ biển, cùng với nhiều cửa sông lớn, vùng triều và đầm phá rộng, Ninh Bình sở hữu một không gian kinh tế biển đa dạng và giàu tiềm năng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa ngành, đa chuỗi, từ nuôi trồng thủy hải sản đến du lịch và logistics. Nhiều địa phương ven biển đã chủ động mở ra hướng đi mới, tập trung vào nuôi trồng thủy hải sản công nghệ cao, chế biến sâu, phát triển thương hiệu OCOP, đầu tư hạ tầng cảng cá, và đẩy mạnh du lịch trải nghiệm biển. Mục tiêu cuối cùng là hướng tới một mô hình kinh tế biển hiện đại và bền vững.
Thành tựu trong nuôi trồng thủy sản
Xã Kim Đông là một ví dụ điển hình với điều kiện tự nhiên thuận lợi, bao gồm bãi triều rộng và độ mặn ổn định. Từ lâu, đây đã trở thành khu vực nuôi trồng thủy sản trọng điểm của tỉnh, với diện tích hơn 5.500 ha. Trong đó, gần 1.000 ha được sử dụng để nuôi tôm trên ao nổi, ao bạt và theo mô hình công nghiệp, cùng với 1.300 ha nuôi ngao thương phẩm. Mỗi năm, địa phương này cung ứng ra thị trường gần 300.000 tấn sản phẩm, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Nghề sản xuất hàu giống và ngao giống cũng được duy trì mạnh mẽ, với hơn 300 trại giống cung ứng khoảng 90 tỷ con giống mỗi năm. Chất lượng con giống luôn được đảm bảo, khẳng định thương hiệu trên thị trường và đủ điều kiện để được chứng nhận nhãn hiệu tập thể với tem truy xuất nguồn gốc.
Phát triển ngành khai thác và chế biến
Cùng với lợi thế nuôi trồng, Ninh Bình hiện có hơn 1.800 tàu thuyền thường xuyên ra khơi khai thác, tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành chế biến thủy, hải sản. Để bao tiêu đầu ra cho ngư dân, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào dây chuyền hiện đại, nhằm phát triển ngành công nghiệp chế biến sâu. Điều này không chỉ nâng cao giá trị gia tăng mà còn góp phần hoàn thiện chuỗi kinh tế biển đa ngành của tỉnh.
Quy hoạch và đầu tư hạ tầng
Công tác quy hoạch vùng kinh tế biển được tỉnh triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp. Hiện nay, Ninh Bình đang tập trung xây dựng Khu kinh tế Ninh Cơ thành một khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành và hiện đại, với quy mô lên tới 13.950 ha trải dài qua các xã như Rạng Đông, Hải Thịnh, Quỹ Nhất và Hải Xuân. Khu kinh tế này được thiết kế để phát triển các lĩnh vực như cảng biển, công nghiệp đóng tàu, logistics và du lịch, tạo sức lan tỏa cho vùng kinh tế ven biển phía đông nam. Hệ thống giao thông ven biển cũng được xây dựng kết nối đồng bộ với các tuyến trọng điểm như Quốc lộ 10, 21A, 37B, 38B, đường cao tốc Ninh Bình-Hải Phòng và Cầu Giẽ-Ninh Bình.
Định hướng và thách thức
Ninh Bình đã định hình phát triển kinh tế biển xoay quanh ba trụ cột chính: công nghiệp và dịch vụ; đô thị sinh thái và nghỉ dưỡng; cùng với nuôi trồng thủy sản. Hạ tầng kinh tế-xã hội, đặc biệt là giao thông, thủy lợi và khu cụm công nghiệp, được quan tâm đầu tư, với nhiều dự án lớn đang được triển khai để nâng cao vị thế địa kinh tế và tạo diện mạo mới cho vùng ven biển. Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, và đảm bảo quốc phòng, an ninh cũng được chú trọng.
Tuy nhiên, theo đánh giá từ các chuyên gia, sự phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có, đặc biệt là trong bối cảnh không gian phát triển mới sau sáp nhập. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa hoàn thiện, thiếu sự kết nối đồng bộ với các địa phương trong khu vực, và các sản phẩm du lịch biển chưa thực sự nổi bật. Nguyên nhân chính của những hạn chế này bao gồm nguồn lực đầu tư còn hạn chế, cùng với tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai, gây thiệt hại lớn đến kinh tế và đời sống của người dân ven biển. Những thách thức này đặt ra yêu cầu mới và cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế biển của tỉnh trong tình hình hiện nay.
Chiến lược dài hạn và giải pháp
Nghị quyết số 16-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, ban hành ngày 12/2/2026, đóng vai trò như một "trục dẫn" chiến lược cho địa phương. Mục tiêu là đánh thức tiềm năng trù phú của dải đất ven biển, hướng tới việc đưa kinh tế biển chiếm hơn 20% GRDP của tỉnh vào năm 2030. Để đạt được điều này, Ninh Bình xác định tập trung vào các nhóm giải pháp chiến lược sau:
- Phát triển đa ngành, với trọng tâm là đột phá về hạ tầng, hình thành hệ thống cảng biển nước sâu, trung tâm logistics và dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại.
- Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tính cạnh tranh.
- Kiên trì mục tiêu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn, và phấn đấu đến năm 2030 không còn hộ nghèo ở vùng ven biển.
- Phát triển du lịch sinh thái biển theo hướng bền vững, hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên, phát triển cộng đồng và khai thác giá trị di sản. Xây dựng thương hiệu du lịch sinh thái Ramsar tầm khu vực, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và gìn giữ nguồn gen quý hiếm tại Vườn quốc gia Xuân Thủy.
- Triển khai thị trường carbon, phổ biến kiến thức về tín chỉ carbon, và hướng tới xuất khẩu, góp phần vào nền kinh tế xanh.
Với những nỗ lực này, Ninh Bình đang từng bước hiện thực hóa tầm nhìn trở thành một trung tâm kinh tế biển năng động và bền vững trong khu vực.



