Đề xuất giám sát tâm thần với người chịu áp lực học tập, công việc kéo dài
Lần đầu tiên tại Việt Nam, những người thường xuyên chịu áp lực học tập, công việc và stress kéo dài có thể được đưa vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần. Đây là nội dung đáng chú ý trong dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh mà Bộ Y tế đang xây dựng.
Mở rộng phạm vi giám sát phòng bệnh
Theo dự thảo, phạm vi giám sát sẽ không chỉ dừng lại ở những người đã được chẩn đoán mắc bệnh, mà mở rộng sang cả những người có nguy cơ. Mục tiêu của việc này là phát hiện sớm các dấu hiệu rối loạn tâm thần, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời ngay tại cộng đồng, trước khi bệnh tiến triển nặng.
Đối tượng giám sát được chia thành ba nhóm chính:
- Người mắc rối loạn tâm thần: Bao gồm các rối loạn phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ và các rối loạn khác theo danh mục chuyên môn.
- Người tử vong do rối loạn tâm thần: Việc theo dõi có hệ thống các trường hợp tử vong mà rối loạn tâm thần là nguyên nhân chính nhằm phục vụ công tác y tế công cộng, giúp nhận diện những bệnh lý có nguy cơ dẫn đến tử vong cao.
- Người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần: Là những người từng có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ liên quan đến sinh học, tâm lý, xã hội hay các yếu tố khác.
Bốn nhóm yếu tố nguy cơ được xác định
Dự thảo thông tư chỉ rõ bốn nhóm yếu tố nguy cơ có liên quan đến khả năng mắc rối loạn tâm thần:
1. Yếu tố sinh học và di truyền:
- Tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần
- Tổn thương não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não
- Mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh
- Những giai đoạn sinh lý đặc biệt như tuổi dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh - mãn kinh và người cao tuổi
2. Yếu tố tâm lý:
- Stress kéo dài
- Sang chấn tâm lý do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp
- Bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn hoặc thảm họa
- Các đặc điểm nhân cách như nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti hoặc cầu toàn quá mức
- Kỹ năng đối phó kém với stress và cảm xúc tiêu cực
- Tiền sử có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát
3. Yếu tố xã hội:
- Tình trạng cô lập, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng
- Kỳ thị, phân biệt đối xử, đặc biệt với các nhóm yếu thế
- Môi trường sống không an toàn, có bạo lực, tội phạm hoặc thiên tai
- Lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, ma túy, thuốc an thần
4. Các yếu tố khác: Trong đó nhấn mạnh tình trạng áp lực cao và kéo dài trong học tập, lao động và kinh tế.
Thu thập thông tin chi tiết để giám sát hiệu quả
Đối với người đã mắc rối loạn tâm thần, cơ quan chuyên môn sẽ thu thập các thông tin cơ bản như họ tên, giới tính, ngày sinh, mã định danh cá nhân hoặc thẻ bảo hiểm y tế, nghề nghiệp, dân tộc và địa chỉ cư trú. Ngoài ra, dữ liệu về tình trạng bệnh cũng được ghi nhận chi tiết.
Với nhóm người có nguy cơ mắc bệnh, ngoài thông tin nhân thân, ngành y tế sẽ thu thập thêm dữ liệu liên quan đến sức khỏe và các yếu tố nguy cơ cụ thể. Đặc biệt, trong nhóm yếu tố xã hội sẽ có thống kê số người đang chịu áp lực học tập hoặc công việc kéo dài.
Việc mở rộng phạm vi giám sát này thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận phòng bệnh tâm thần tại Việt Nam, từ chỗ tập trung vào điều trị sang chú trọng phát hiện sớm và can thiệp kịp thời ngay từ cộng đồng.



