Rồi sẽ đến một ngày, bạn chợt nhận ra rằng những mối quan hệ từng khăng khít, tốt đẹp ngày nào cũng dần phai nhạt mà chẳng cần lý do cụ thể. Bạn bè thân thiết xưa kia, từng gặp gỡ ăn uống, tụ tập hát hò mỗi tuần ít nhất vài lần, bỗng thưa thớt dần. Có khi bẵng đi cả năm trời không gặp, chỉ thỉnh thoảng hỏi thăm sức khỏe nhau qua messenger, zalo hay wechat, và điều đó trở nên hết sức bình thường. Lúc ấy, bạn biết mình đã thực sự về hưu lâu rồi, và tuổi già đã đến. Những người xung quanh bạn cũng vậy.
Tuổi già và những thay đổi tinh tế trong cuộc sống
Bởi vì già đi, phần lớn chúng ta cảm thấy việc bày tỏ tâm trạng cá nhân không còn hào hứng như trước. Trên trang mạng cá nhân, thứ bạn chia sẻ nhiều nhất có lẽ là những lời chia buồn mỗi khi thấy tin cáo phó, tiếp theo là những lời chúc mừng sinh nhật, đều rất dễ dàng và đơn giản. Facebook dần trở thành nơi để đăng tin buồn và gửi lời phân ưu. Những cuộc gặp gỡ trực tiếp nhiều nhất, vào một ngày nào đó, thường là để đi dự đám tang. Cũng có thể là đám hỷ, nhưng phần lớn vẫn là đám tang. Điều này tuyệt nhiên không có gì đáng buồn, bởi nó phản ánh một giai đoạn tự nhiên của cuộc đời.
Đám tang của nhà báo Đặng Minh Phương: Một câu chuyện giản dị và đầy ý nghĩa
Vào đầu tháng 2 năm nay, chúng tôi có một đám tang, mà theo cách gọi của các cụ ngày xưa là hồng tang. Người ra đi, nhà báo Đặng Minh Phương, đã gần tròn 100 tuổi. Bác đã chuẩn bị cho sự ra đi của mình một cách thật giản dị, dặn dò bỏ hết những nghi thức tang lễ mà bác cho là rườm rà, và tự tay viết một bản lý lịch ngắn gọn. Bản lý lịch được viết bằng văn phong báo chí súc tích, chỉ tập trung vào thông tin cơ bản.
Một nhà báo từng công tác ở ba tờ báo: Cứu quốc Nam Trung Bộ, Cờ Giải phóng và Nhân Dân, với một lịch sử làm báo ít ai sánh kịp. Ông là người đã lăn lộn ở chiến trường miền Nam trong những năm chống Mỹ ác liệt nhất, nhưng chỉ tự mô tả bản thân qua những liệt kê về nơi công tác, không quá năm trăm chữ. Chỉ những ai am hiểu lịch sử báo chí cách mạng mới thấu hiểu được sức nặng của những dòng chữ ấy.
Ký ức về trại trẻ sơ tán Báo Nhân Dân
Trước ngày đưa tiễn bác Đặng Minh Phương, chúng tôi bỗng nhiên trò chuyện với nhau về những ngày cuối cùng của cha mình. Phạm Bạch Dương nhắc đến bác Trần Kiên, tôi nhớ về bố Phạm Thanh. Chúng tôi có một điểm chung, giống như chị Đặng Việt Phương là con gái bác Đặng Minh Phương, cha của chúng tôi đều từng làm việc tại Báo Nhân Dân. Và tất cả chúng tôi đều thuộc về một nhóm có tên là nhóm Trại trẻ sơ tán Báo Nhân Dân.
Đến nay, nhóm Trại trẻ sơ tán của chúng tôi đã tròn 61 tuổi. Thời gian trôi qua nhanh đến mức khó có thể tin nổi. Nói ngắn gọn, chúng tôi là con em của Báo Nhân Dân, chắc chắn là lứa đầu tiên. Báo Nhân Dân năm nay kỷ niệm 75 năm thành lập, trong khi Trại trẻ của chúng tôi đã có lịch sử 61 năm.
Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của trại trẻ
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964, đến năm 1965, Mỹ bắt đầu đem bom đánh phá miền Bắc. Để đảm bảo an toàn cho con em cán bộ tòa soạn, giúp các phóng viên, biên tập viên, cán bộ và công nhân viên yên tâm công tác, Báo Nhân Dân đã thành lập một trại sơ tán. Mục đích là để bảo đảm báo vẫn xuất bản hàng ngày, đưa tin nóng hổi và chính xác nhất về cuộc chiến tranh đang lan rộng khắp đất nước.
Một lũ trẻ lít nhít, với đứa lớn nhất học cấp 2 và đứa nhỏ nhất đang ở độ tuổi mẫu giáo, lếch thếch di chuyển về nơi sơ tán đầu tiên ở thị trấn Vân Đình. Lúc đó, tôi thuộc lứa nhỏ nhất, đang học mẫu giáo, còn anh trai tôi chưa hết vỡ lòng. Không nhớ rõ đợt sơ tán đầu tiên có bao nhiêu đứa trẻ, nhưng sau này, tính cả hai đợt sơ tán, đợt sau vào năm 1972 khi chiến sự căng thẳng trở lại trên bầu trời Hà Nội, trại trẻ của chúng tôi có tổng cộng hơn 150 thành viên.
Những kỷ niệm khó quên và tình bạn bền chặt
Giờ đây, tất nhiên, bọn trẻ nhỏ nhít, đói ăn và ghẻ lở ngày nào đều đã trở thành ông, thành bà cả rồi. Có lần, trong một đám tang của một bác từng trông nom chúng tôi, ban tổ chức lễ tang lớn tiếng gọi: “Mời các cháu Trại trẻ sơ tán Báo Nhân Dân!”. Các cháu bước vào, vẫn còn vẻ lếch thếch nhưng đầu đã bạc trắng.
Những cô bác ở tòa soạn, làm việc ngày đêm trong tiếng bom gào rú, để không ngày nào Báo Nhân Dân vắng bóng trên sạp báo. Trong thời gian chúng tôi ở trại, nhiều cha mẹ đã ra chiến trường. Cha tôi, nhà báo Phạm Thanh, thường trú ở vùng đất từ Nghệ An đến Quảng Bình từ năm 1967 đến 1969. Năm 1972, khi B.52 bắn phá bầu trời miền Bắc, bố tôi thường trú tại Hà Nội. Nhà báo Đặng Minh Phương và Nguyễn Sinh cũng từng hoạt động ở vùng đất lửa Vĩnh Linh. Rất nhiều phóng viên trẻ khác của Báo Nhân Dân đã được cử vào chiến trường đầy hiểm nguy.
Hạnh phúc giản đơn và niềm tự hào
Có những hạnh phúc không thể diễn tả bằng lời, như khi được về nhà, tôi nhìn thấy cha mình cặm cụi viết bài sau một trận bom, và sáng hôm sau thấy dòng người xếp hàng mua Báo Nhân Dân ở bưu điện phố Huế. Thời đó, trong báo có bài của cha, tôi cảm thấy tự hào vô cùng. Báo Nhân Dân lúc ấy chưa đông đúc như bây giờ, tòa soạn giống như một gia đình lớn.
Tất cả lũ trẻ ở Báo Nhân Dân như chúng tôi, đứa nào cũng có thời kỳ đu lên rễ cây đa ở số 71 Hàng Trống. Tết đến, các mẹ (bọn trẻ ở trại gọi rất nhiều các bác, các cô là mẹ, như mẹ Định, mẹ Hồ Vân, mẹ An...) gói bánh chưng ngay dưới gốc đa, các nhà góp phiếu mua gạo thịt để cùng nhau chuẩn bị. Rồi tổ chức văn nghệ, chiếu phim. Sự thân thiết ấy in sâu vào ký ức bọn trẻ, đến giờ vẫn không quên, hễ gặp nhau là lại kể lại.
Di sản và sự tiếp nối
Một lứa làm báo ở Báo Nhân Dân ngày xưa, như cha mẹ chúng tôi, đã có một hành trình sống tuyệt vời, gắn bó với tờ báo và với một giai đoạn lịch sử khó khăn nhưng hào hùng của đất nước. Không nhiều thành viên trại trẻ tiếp nối nghiệp làm báo của cha mẹ, nhưng vẫn có những người như anh Hoàng Tuấn Phong, con bác Hoàng Tuấn Nhã; anh Hà Hồng, con bác Ngô Thi; anh Kiều Thắng con bác Kiều Đệ; và tôi, con của nhà báo Phạm Thanh. Nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, con bác Huỳnh Lý, thì nổi tiếng ở báo Lao Động.
Tôi nhớ khi cha xin cho tôi về Báo Nhân Dân làm phóng viên, lý do đơn giản là: “Chỉ ở Báo Nhân Dân mới là làm báo đúng nghĩa. Nếu con muốn làm báo, văn phong Báo Nhân Dân mới là chuẩn mực. Làm Báo Nhân Dân thì tư cách không thể nhí nhố được...”. Giờ thì tôi vẫn muốn phản bác lại một nửa điều cha nói, vì lý do tôi về đây hơi khác: tôi tính toán rằng ở Báo Nhân Dân sẽ được đi nhiều nơi hơn so với Đài Hà Nội, và may mắn thay, sự nhí nhố của tôi vẫn được bảo toàn từ thời trại trẻ đến giờ.
Tình bạn vượt thời gian và những bài học cuộc sống
Trại trẻ của chúng tôi vẫn gặp nhau là cười. Những năm tháng ấy, dù cha mẹ ở vị trí nào trong báo, bọn trẻ vẫn chỉ là bọn trẻ. Một cơ quan, cũng như nhiều cơ quan khác, có đủ thứ chuyện, nhưng tuyệt vời nhất là bọn trẻ với nhau không liên quan gì đến những điều ấy. Chúng tôi cứ thương yêu và quan tâm nhau trong nhóm tự đặt tên là Trại trẻ sơ tán Báo Nhân Dân.
Nhìn lại, những năm tháng ở Trại trẻ sơ tán có thể gọi là những tháng năm hạnh phúc. Dù đói, dù nhớ cha mẹ, nhưng chúng tôi có nhiều bạn bè và được yêu thương. Trong hành trình của Báo Nhân Dân, có hành trình bên ngoài của chúng tôi. Trại trẻ đã 61 năm, và chúng tôi tự hào vì mình đã già, thật đấy. Mỗi đứa trong trại đều có hành trình sống riêng, trong đó có một chút vương vấn khói bom và lửa đạn cùng nhau. Một chút thôi, chẳng thấm tháp gì so với thế hệ cha anh, nhưng cũng đủ để chúng tôi biết cách mến yêu và trân trọng cuộc sống, trân trọng ngôi nhà 71 Hàng Trống của tuổi thơ mãi mãi.



