Tập thơ 'Việt sử tam bách vịnh' của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ được dịch và chú giải chi tiết
Tập thơ 'Việt sử tam bách vịnh' được dịch và chú giải

Tập thơ 'Việt sử tam bách vịnh' của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ được dịch và chú giải chi tiết

Tập thơ 'Việt sử tam bách vịnh' do danh sĩ Nhữ Bá Sĩ sáng tác trong thế kỷ 19, bao quát lịch sử dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm, từ thời Kinh Dương Vương đến hết thời Hậu Trần. Công trình này gồm 309 bài thơ vịnh các nhân vật lịch sử, được viết theo thể thất ngôn bát cú của luật thơ Đường, tạo nên một bức tranh tổng thể về lịch sử nước nhà.

Quá trình dịch thuật và chú giải công phu

Sách đã được học giả Lê Văn Uông chuyển ngữ trong nhiều năm, với sự hỗ trợ của thứ nam là thầy giáo Lê Văn Đình trong phần chú giải. Phần chỉnh sửa bản thảo được tiến sĩ Lê Thúy Hà – con gái thầy Lê Văn Đình – cùng chồng là thầy giáo Phạm Gia Huân thực hiện. Mỗi bài trong bản dịch đều có đủ năm phần: nguyên âm chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, và chú giải chi tiết.

Do phong cách vịnh sử mượn nhiều điển cố, dịch giả đã chú giải kỹ lưỡng để bạn đọc ngày nay có thể hiểu rõ nội dung. Điều này giúp làm sáng tỏ các nhân vật lịch sử, từ những vị vua nổi tiếng như Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Trần Thánh Tông, đến các danh tướng như Dương Diên Nghệ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nội dung phong phú và đa dạng

Bên cạnh các nhân vật chính, tập thơ còn vịnh về những nhân vật chỉ thấp thoáng trong chính sử như Huyền Trân Công chúa, sư Pháp Loa, Yết Kiêu, Hà Đặc. Ngoài ra, có cả những viên tướng giặc như Thoát Hoan, Mộc Thạch, Trương Phụ, góp phần tạo dựng một cái nhìn toàn diện về lịch sử.

Trong bộ Từ điển văn học, tập hai, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Tú Châu khẳng định qua Việt sử tam bách vịnh, Nhữ Bá Sĩ 'ca ngợi, khẳng định thời đại Hùng vương về nhiều mặt, và đề cao tất cả những anh hùng dân tộc có công với dân với nước, bất kể miền xuôi, miền ngược, trẻ già, trai gái, xuất thân tôn quý hay bần hàn'.

Tiểu sử danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Danh sĩ Nhữ Bá Sĩ (1788-1867) quê ở làng Cát Xuyên, xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa, nay là xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông thi đỗ Hương cống khoa thi năm Tân Hợi, niên hiệu Minh Mạng thứ 2 (1821) tại trường thi Thanh Hóa khi 31 tuổi. Ông lần lượt làm quan trải các chức Tri huyện Tiên Lữ (Hưng Yên), thăng lên Viên ngoại lang bộ Hình, Chủ sự bộ Hình, Lang trung.

Ông cũng nhiều lần bị giáng truất rồi được khai phục, từng phải đi hiệu lực (đi phục dịch trong phái đoàn ngoại thương ở nước ngoài), rồi trải qua nhiều chức vụ trong ngạch giáo dục của triều đình nhà Nguyễn như Huấn đạo, Giáo thụ, Hàn lâm viện tu soạn. Chức vụ cuối cùng ông đảm nhiệm là Đốc học Thanh Hóa cho đến khi trí sĩ (thôi làm quan) và dạy học ở nhà, viết sách.

Nhữ Bá Sĩ là một trong những nhà nho ở thế kỷ 19 có nhiều tác phẩm, đến nay chưa thể thống kê đầy đủ. Về đề tài văn học, sử học, hai tập Phi điểu nguyên âmViệt sử tam bách vịnh của ông được đời sau đánh giá là có nội dung và hình thức đứng đầu.

Thông tin về dịch giả Lê Văn Uông

Dịch giả Lê Văn Uông tốt nghiệp trường Sư phạm Quốc học Huế năm 1937. Trước Cách mạng tháng Tám, ông dạy học ở Bình Định, Thanh Hóa. Từ năm 1947-1970, ông là Thanh tra Tiểu học tỉnh Thanh Hóa, rồi làm giáo viên các trường Sư phạm ở Thanh Hóa. Năm 1972-1980, ông được mời thỉnh giảng Khoa Hán Nôm, Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Ông là một nhà nghiên cứu Hán Nôm uy tín, là tác giả bản dịch các tác phẩm nổi tiếng như bài Lam Sơn lương thủy phú, Văn bia Vĩnh Lăng, truyện Tùy Đường diễn nghĩa, đặc biệt là bộ sử Lam Sơn thực lục, ghi chép chân xác toàn bộ diễn biến của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.