Phạm Lam Anh: Nữ sĩ mê ngâm vịnh và cuộc đời bất tuân lễ giáo thế kỷ 18
Phạm Lam Anh: Nữ sĩ mê ngâm vịnh thế kỷ 18

Phạm Lam Anh: Ánh ngọc lam mê đắm thi ca và tinh thần phá cách

Danh thần Trương Đăng Quế (1793 - 1865), từng là thầy dạy của các anh em vua Thiệu Trị, đã đưa ra nhận định sâu sắc: Xét lại lịch sử mở cõi của nước Nam qua hàng trăm ngàn năm, trong khoảng thời gian ấy, những thi hào nổi bật từ khuê các, trước có Phạm Lam Anh, sau có Hồ Xuân Hương, chỉ hai người mà thôi. Ngoài ra, hầu như không còn ai được nhắc đến. Cả Phạm Lam Anh và Hồ Xuân Hương đều là những nữ sĩ mang cá tính mạnh mẽ, ý thức bản ngã sâu sắc trong thi đàn Việt Nam thời trung đại. Trong khi Hồ Xuân Hương được tôn vinh là bà chúa thơ Nôm, thẳng thắn bộc lộ những ẩn ức dục tình qua ngôn từ Việt, thì Phạm Lam Anh lại tỏa sáng với sở trường làm thơ Hán, với nhiều câu thơ được chính sử nhà Nguyễn khen ngợi là rắn rỏi, đầy khí phách.

Xuất thân và danh tính độc đáo của một nữ sĩ tài hoa

Phạm Lam Anh là con gái của Cai bạ Quảng Nam Phạm Hữu Kính (đỗ Hương tiến năm 1738). Bà vốn có nhũ danh là Khuê (nghĩa là ngọc Khuê), bên cạnh người em gái Phạm Thị Nhân (mang ý nghĩa nhân ái) và ba em trai là Quả Nghị (thể hiện sự quả quyết, nghiêm nghị), Tồn Thành (giữ lấy sự chân thành) và Lạc Thiện (vui vẻ làm việc thiện). Xét kỹ, chỉ có tên Khuê mang lại cảm giác nâng niu, trìu mến, trong khi những cái tên còn lại của các em và cả tên của người cha đều in đậm dấu ấn giá trị đạo đức Nho gia truyền thống.

Tuy nhiên, suốt cuộc đời mình, Phạm Thị Khuê lại sử dụng rộng rãi tên tự Lam Anh (ánh ngọc màu lam), dù mang thân phận nữ giới, đồng thời chủ động lược bỏ chữ đệm "Thị". Ngay trên bia mộ của cha mình, bà đã khắc tên Lam Anh bên cạnh tên em gái Thị Nhân, đủ thấy ý thức sâu sắc của bà đối với danh tính mà bà ưa chuộng. Lam Anh là một tên tự vừa đẹp đẽ vừa ngạo nghễ, phản ánh tinh thần độc lập. Từ nhỏ, bà đã thông minh mẫn tuệ, yêu thơ và có tài làm thơ, được cha yêu thương nhất, dạy dỗ công phu nhất. Về sau, tài năng của bà từng được chúa Nguyễn Phúc Thuần (trị vì từ 1765 đến 1777) biết đến, vời vào cung làm Nữ học sĩ để giảng dạy. Để thể hiện lòng say mê đặc biệt đối với thi ca, Phạm Lam Anh còn tự đặt thêm tên hiệu Ngâm Si, có nghĩa là kẻ si mê ngâm vịnh, cho thấy đam mê nghệ thuật mãnh liệt.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bất tuân lễ giáo và mối tình đồng điệu

Ông bố Phạm Hữu Kính đã lựa chọn sẵn con rể tương lai là Nguyễn Dưỡng Hạo, nổi tiếng với tài văn thơ, dành cho ái nữ của mình. Ông mời Dưỡng Hạo đến nhà làm gia sư cho các con trai. Lam Anh vì yêu thơ, mến tài, trọng khí chất, nên viết thơ từ tặng đáp với Dưỡng Hạo ngày càng mật thiết. Và rồi, điều không thể tránh khỏi đã xảy ra: họ vượt qua rào cản lễ giáo ngay tại chính nhà ông Cai bạ. Anh chàng "thuần Nho" Dưỡng Hạo, với tinh thần Nho gia khắt khe, chưa chắc đã là người chủ động phá cách. Chỉ biết khi ông bố biết chuyện, đã nổi giận lôi đình, dọa dìm chết Lam Anh, phải đợi bạn bè khuyên can mới dừng cơn thịnh nộ. Xét ra, cơn giận của Phạm Hữu Kính chỉ là hành động làm quá lên để giữ thể diện nhà Nho trước người ngoài, bởi nếu không, ngay từ đầu ông đã không tạo điều kiện để "lửa gần rơm", và việc thất lễ chỉ là chuyện xảy ra sớm muộn. Câu chuyện này cho thấy, ngay trong môi trường gia giáo nghiêm ngặt của một nhà Nho đất Quảng thế kỷ 18, việc thất tiết vẫn có thể xảy ra, và hình ảnh người khuê nữ Quảng Nam, dù chỉ qua vài nét phác họa, vẫn nổi bật với cá tính mạnh mẽ, bất tuân lễ giáo.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Lễ cưới của Lam Anh và Dưỡng Hạo sau đó cũng đã diễn ra. Ông bố vợ không đòi hỏi lời hứa đỗ đạt từ con rể, bởi suốt đời, Dưỡng Hạo không tham gia khoa cử, không làm quan, khác với trường hợp của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh bốn trăm năm trước đó. Hai vợ chồng Lam Anh và Dưỡng Hạo sống bên nhau tâm đầu ý hợp, đồng điệu đến mức sau này khi Lam Anh qua đời, Dưỡng Hạo cũng mất theo. Sinh thời, họ đã cùng nhau xướng họa, sáng tác nên nhiều thi phẩm đặc sắc. Trong đó, Chiến Cổ Đường thi tập là tập thơ chung của hai vợ chồng, được lưu hành rộng rãi thời bấy giờ. Chiến Cổ Đường cũng là tên hiệu chung của họ, được đặt ra nhằm đánh dấu tháng ngày cùng nhau ngâm vịnh, luận bàn về các danh nhân xưa. Bài thơ Vịnh Khuất Nguyên của Lam Anh trong số đó được người đương thời truyền tụng nhiều nhất, cũng là bài thơ bộc lộ chí khí mạnh mẽ nhất của bà:

Sự nghiệp ngàn thu khôn thỏa chí.
Sóng chưa dìm hết tấm lòng son.
Khí hờn cô quạnh trời nao hỏi.
Người tỉnh đi rồi, nước trống trơn.

Bài thơ Vịnh Khuất Nguyên của Phạm Lam Anh được chép trong Nam hành ký đắc tập của Phạm Nguyễn Du (1739 - 1786).

Di sản của một bản ngã lớn trong lịch sử văn học

Quả thực, những con người có ý thức sâu sắc về bản ngã đều là những người mang cá tính mạnh mẽ, không thể lẫn với bất kỳ ai. Họ không chấp nhận hòa tan trong dòng chảy vô danh của cuộc sống, và hơn hết, không chịu sống làng nhàng, thầm lặng. Nỗi trăn trở về sự hiện diện của bản thân trong thế gian luôn thôi thúc, khiến họ hết lần này đến lần khác, tìm cách khẳng định cái tôi riêng biệt, không phải bằng sự khoa trương, mà bằng nỗ lực sống có dấu ấn, có ý nghĩa. Thường thì cuộc đời của những bản ngã to lớn mang theo ấm ức hiện sinh, chẳng mấy khi yên ả, êm đềm, bởi họ luôn chất chứa suy tư, luôn khát vọng được sống mãnh liệt và chân thực. Phạm Lam Anh, với tư cách là một nữ sĩ tiên phong, đã để lại di sản văn chương quý giá, minh chứng cho tinh thần độc lập và đam mê nghệ thuật vượt thời đại.

(Trích từ cuốn Họ và tên: một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt, tác giả Trần Quang Đức, NXB Thế giới, Công ty Nhã Nam)