Để làm rõ hơn thực trạng năng lực dự báo các dịch chuyển xã hội, cũng như những khủng hoảng tâm lý con người trong kỷ nguyên số, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - VASS).
Khả năng dự báo trước những dịch chuyển xã hội
Phóng viên: Thưa Tiến sĩ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khoa học xã hội phải tạo nền tảng cho năng lực quản trị quốc gia và hoạch định chính sách. Từ thực tế nghiên cứu, ông nhìn nhận thế nào về khả năng dự báo khoa học trước những dịch chuyển rất nhanh của xã hội hiện nay, ví dụ như tốc độ già hóa dân số nhanh, sự thu hẹp của tầng lớp trung lưu hay sự thay đổi của cấu trúc gia đình Việt Nam? Phải chăng chúng ta đang đi sau để mô tả thực trạng nhiều hơn là dự báo sớm để hiến kế chính sách?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện: Thực tiễn xã hội luôn vận động, biến đổi không ngừng do tác động của nội và ngoại sinh. Trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển nhanh như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi cấu trúc xã hội và hệ giá trị của mỗi quốc gia. Việt Nam là quốc gia đang phát triển với tốc độ nhanh, và cũng đang trong quá trình thay đổi theo xu hướng tiến bộ của nhân loại. Bên cạnh những thành tựu, còn không ít thách thức nảy sinh như tốc độ già hóa dân số nhanh, sự thu hẹp của tầng lớp trung lưu hay sự thay đổi của cấu trúc gia đình Việt Nam.
Trong thời gian qua, các nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam đã sớm quan tâm, luận giải bản chất, tính quy luật và dự báo về các vấn đề này. Chẳng hạn, vào những năm thập niên 1990, các nghiên cứu của Viện Xã hội học, nay là Viện Xã hội học và Tâm lý học đã cung cấp những bằng chứng luận giải nguyên nhân chi phối mức sinh; tiếp đó vào thập niên 2000, các nghiên cứu của viện tiếp tục đề cập đến cơ hội dân số vàng và dự báo về tiến trình già hóa dân số sẽ diễn ra ở Việt Nam.
Tác động của Công cuộc đổi mới (1986) dẫn đến chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và phân tầng xã hội diễn ra mạnh mẽ. Một số nghiên cứu của Viện đã luận giải các yếu tố chi phối di động xã hội, phân tầng xã hội và sự gia tăng tầng lớp trung lưu cùng vai trò của tầng lớp này trong phát triển xã hội. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ và cấu trúc gia đình Việt Nam. Các nghiên cứu của Viện đã nhận diện và luận giải về các tác nhân dẫn đến thay đổi quy mô, cấu trúc gia đình theo xu hướng gia đình hạt nhân, và một số loại hình gia đình mới như gia đình bà mẹ đơn thân, gia đình sống chung không kết hôn, v.v.
Kết quả và phân tích từ các nghiên cứu thực nghiệm của Viện không chỉ mô tả nhận diện các hiện tượng, vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống đương đại mà còn luận giải bản chất và tính quy luật chi phối, ảnh hưởng, cũng như đưa ra những kiến nghị khoa học, hàm ý chính sách để các cơ quan hữu quan, nhất là giới quản lý tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển đất nước.
Tác động của không gian mạng đến tâm lý con người
Phóng viên: Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu khoa học xã hội phải phục vụ phát triển con người và giữ vững ổn định xã hội. Hiện nay, không gian mạng đang tác động mạnh mẽ đến tâm lý, hành vi của người dân, đặc biệt là giới trẻ (như trầm cảm, bạo lực mạng, lệch chuẩn giá trị). Viện Xã hội học và Tâm lý học đã bóc tách thực trạng này như thế nào để cung cấp những "bộ lọc" tâm lý, giúp xã hội ứng phó với mặt trái của thời đại số?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện: Tôi rất tâm đắc và đồng thuận với yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với khoa học xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, cuộc sống của con người bị tác động đa chiều, với sự xuất hiện của những tác nhân, biến thể mới phức tạp, rất khó lường. Điều này yêu cầu khoa học xã hội không chỉ nhanh chóng nhận diện phát hiện vấn đề, chỉ ra bản chất và quy luật chi phối, tiên lượng diễn biến của hiện tượng xã hội, mà còn kịp thời đưa ra kiến giải khoa học, giải pháp mới để tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong quá trình quản lý phát triển xã hội ổn định và bền vững.
Chẳng hạn, từ góc nhìn xã hội học, chúng tôi cho rằng sự phát triển công nghệ thông tin không chỉ làm thay đổi phương thức truyền thông trong xã hội mà còn làm thay đổi quan hệ và tương tác xã hội của con người. Điều quan ngại là môi trường số và không gian mạng đang tác động mạnh mẽ đến tâm lý, hành vi của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Hiện tượng thanh thiếu niên trầm cảm, bạo lực mạng, lệch chuẩn giá trị, lệch chuẩn xã hội đang hiện hữu trong đời sống mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội.
Những vấn đề xã hội và tâm lý nêu trên đã được Viện Xã hội học và Tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu, với những cuộc khảo sát quy mô cấp quốc gia và địa phương được thực hiện trong những năm gần đây. Kết quả của các nghiên cứu do viện thực hiện không chỉ nhận diện thực trạng, bóc tách nguyên nhân, phân tích hệ lụy của vấn đề này mà còn đưa ra những kiến nghị khoa học liên quan đến vai trò của các thiết chế xã hội và các chủ thể xã hội, khai thác lợi thế của công nghệ truyền thông số và ứng phó với mặt trái, hệ lụy nảy sinh đối với cuộc sống con người, nhất là giới trẻ trong thời đại số.
Xây dựng trường phái khoa học Việt Nam
Phóng viên: Đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là phải "từng bước hình thành các trường phái khoa học Việt Nam". Để xây dựng được một trường phái Xã hội học và Tâm lý học mang bản sắc riêng của Việt Nam, có đủ năng lực giải thích các hiện tượng xã hội đặc thù của nước nhà, theo Tiến sĩ, chúng ta cần thay đổi tư duy nghiên cứu và phương pháp tiếp cận ngay từ lúc này như thế nào?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện: Lý luận, lý thuyết là tri thức cốt lõi của ngành khoa học và tầm ảnh hưởng của mỗi trường phái khoa học cũng phụ thuộc rất lớn vào sự hiện hữu của tri thức lý luận, lý thuyết trong đời sống xã hội. Trong thời gian qua, khoa học xã hội Việt Nam đã sử dụng, vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh (hay nói cách khác quan điểm Mác-xít), đồng thời vận dụng quan điểm lý thuyết của nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây trong nhận diện và luận giải các vấn đề thực tiễn Việt Nam.
Tuy nhiên, với chiều dài lịch sử và thành tựu, ngành khoa học xã hội Việt Nam hoàn toàn có thể đẩy sâu hơn, nâng tầm hơn nữa trong các công trình nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm nhận diện phát hiện mới, chỉ ra bản chất và cơ chế nảy sinh vấn đề xã hội trong thực tiễn phát triển ở các vùng miền của đất nước. Từ đó, không chỉ có những đóng góp mới về lý luận, đặc biệt là khái niệm và lý thuyết được sản sinh từ thực tiễn Việt Nam, hơn thế còn đưa ra kiến nghị khoa học, giải pháp mới, tư vấn cho Đảng và Nhà nước quản lý phát triển xã hội ổn định và bền vững.
Để xây dựng hình thành các trường phái lý thuyết chuyên ngành xã hội học và chuyên ngành tâm lý học mang bản sắc của Việt Nam, có đủ năng lực giải thích các hiện tượng xã hội đặc thù của nước nhà mà các lý thuyết phương Tây chưa giải thích thấu đáo được, theo tôi, ngành xã hội học và ngành tâm lý học Việt Nam cần khẩn trương hơn nữa trong việc thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy nghiên cứu và tiếp tục cập nhật phương pháp tiếp cận trong bối cảnh mới hiện nay.
Cần mạnh dạn thay đổi nhận thức trong nghiên cứu, chuyển từ tư duy "tiếp nhận, mô tả, vận dụng mang tính hình thức" sang tư duy "phát triển lý thuyết" hay "kiến tạo lý thuyết", dùng lý thuyết để chỉ dẫn nghiên cứu, luận giải thấu đáo thực tiễn động thái biến đổi xã hội Việt Nam. Tôi cho rằng hoàn toàn có tính khả dĩ trong việc hình thành các lý thuyết từ thực tiễn nghiên cứu, quá trình điền dã thực địa ở các vùng miền ở Việt Nam bằng cách mạnh dạn thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu theo hướng mở và linh hoạt hơn.
Về phương pháp tiếp cận nghiên cứu, cũng cần phải đổi mới theo hướng tiếp cận liên ngành, xuyên ngành, thay vì chỉ tiếp cận đơn ngành còn phổ biến trong nhiều đề tài nghiên cứu. Kết hợp nhuần nhuyễn và hiệu quả phương pháp định lượng, định tính trong phân tích kết quả nghiên cứu ở quy mô và cấp độ mẫu khác nhau. Nâng cao kỹ năng số, ứng dụng AI trong quá trình nghiên cứu, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình khoa học và đạo đức nghiên cứu để hướng tới nâng tầm chất lượng chuyên môn và học thuật.
Việc nhanh chóng thay đổi tư duy nghiên cứu gắn với phát triển lý thuyết và kiến tạo lý thuyết mới gắn chặt với bối cảnh và đặc thù xã hội Việt Nam sẽ giúp ngành xã hội học và ngành tâm lý học hình thành các trường phái lý thuyết vừa mang bản sắc Việt Nam, vừa hòa chung vào giá trị học thuật quốc tế, cung cấp những bằng chứng khoa học và giải pháp mới, đóng góp vào việc phát triển xã hội ổn định và bền vững.
Vũ Quỳnh - Tôn Anh (thực hiện)



