Việt Nam nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học trước nhiều thách thức
Việt Nam nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học

Việt Nam là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhưng đang đối mặt nhiều thách thức do suy giảm hệ sinh thái, nạn săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và tác động của biến đổi khí hậu. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn của các cơ quan chức năng và toàn xã hội bằng những hành động thiết thực để bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả.

Chung tay bảo vệ nguồn gen quý

Điều phối viên Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển Lã Quang Trung chia sẻ: “Voọc mông trắng là loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, sinh sống ở các vùng núi đá vôi một số tỉnh, thành phố phía Bắc như Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa… Trước đây, do áp lực săn bắn, loài linh trưởng này đã tuyệt chủng ở nhiều nơi. Tại rừng đặc dụng Hương Sơn (Hà Nội), vốn là nơi phân bố chính của voọc mông trắng, đến năm 2015 gần như không còn ghi nhận loài này sinh sống. Đến năm 2022, Trung tâm và Chi cục Kiểm lâm Hà Nội tổ chức điều tra, khảo sát, phát hiện một đàn với năm cá thể. Trung tâm phối hợp địa phương thành lập tổ gồm hai người, tuần tra từ 10 đến 15 ngày mỗi tháng nhằm theo dõi, giám sát tình trạng đàn voọc và kịp thời phát hiện, báo cáo cơ quan chức năng những nguy cơ xâm hại. Sau thời gian được bảo vệ, đến nay đàn linh trưởng này đã tăng lên 14 cá thể”.

Trung tâm Bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam cho biết, rùa Trung Bộ là một trong những loài rùa cạn nguy cấp nhất tại Việt Nam. Vào cuối thập niên 1980, loài này gần như biến mất ngoài tự nhiên do nạn săn bắt và buôn bán trái phép. Sự suy giảm nhanh chóng đã đặt loài này trước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Năm 2000, Trung tâm Bảo tồn rùa (Vườn quốc gia Cúc Phương) phối hợp Chương trình Bảo tồn Rùa châu Á (ATP) nhân nuôi bảo tồn với quần thể ban đầu 18 cá thể. Nhờ các biện pháp chăm sóc, quản lý di truyền và nhân nuôi sinh sản có kiểm soát, đến nay gần 600 cá thể được gây nuôi thành công. Cùng với đó, khoảng 80 cá thể được tái thả ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đắk Lắk) nhằm từng bước khôi phục quần thể trong tự nhiên.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

Vườn quốc gia Cát Bà (thành phố Hải Phòng) là nơi có tính đa dạng sinh học cao với ba hệ sinh thái: rừng, đất ngập nước và biển. Đây là nơi cư trú của 4.120 loài động, thực vật, trong đó có 156 loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm. Đáng chú ý, voọc Cát Bà là loài đặc hữu của Việt Nam, được phân hạng ở mức cực kỳ nguy cấp do trên đảo chỉ còn 90 cá thể và bị chia thành bảy nhóm tách biệt.

Theo Giám đốc Vườn quốc gia Cát Bà Nguyễn Văn Thịu: “Vườn quốc gia đang nỗ lực phối hợp các cơ quan chức năng, tổ chức quốc tế, cộng đồng nhằm bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và voọc Cát Bà nói riêng thông qua thiết lập các khu bảo vệ, nhất là vùng sống của loài này. Đồng thời, chúng tôi duy trì các tổ bảo vệ rừng tại địa phương với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, nhất là khu vực có voọc sinh sống; trợ giúp các hộ bảo vệ voọc; tuyên truyền, giáo dục bảo tồn cho người dân địa phương”.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Kiểm soát tác động tới đa dạng sinh học

Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đến nay Việt Nam có 181 khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích hơn 2,67 triệu héc-ta. Tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục được duy trì ổn định hơn 42%, góp phần quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu và hấp thụ các-bon. Nhiều hệ sinh thái quan trọng như rừng ngập mặn, đất ngập nước nội địa, rạn san hô, cỏ biển và vùng ven biển đang từng bước được phục hồi.

Cùng với đó, nhiều chương trình bảo tồn loài nguy cấp được triển khai hiệu quả, trong đó số lượng rùa biển sinh sản tại Côn Đảo tăng hơn 40% giai đoạn 2020-2022. Hơn nữa, công tác bảo tồn loài hoang dã nguy cấp tiếp tục được tăng cường thông qua các chương trình cứu hộ, nhân nuôi bảo tồn, tái thả về tự nhiên, kiểm soát buôn bán trái phép động vật hoang dã và phục hồi sinh cảnh. Việt Nam đang thúc đẩy lồng ghép đa dạng sinh học vào các chiến lược và quy hoạch phát triển quốc gia, ngành, địa phương nhằm góp phần giảm đến mức thấp nhất tác động đến hệ sinh thái.

Trung tâm Bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam cho rằng, nước ta là một trong 16 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới khi sở hữu hệ sinh thái phong phú cùng nguồn tài nguyên sinh vật đặc biệt đa dạng. Hiện nay, nước ta ghi nhận hơn 51.400 loài động, thực vật, trong đó nhiều loài mang tính đặc hữu cao và có giá trị bảo tồn toàn cầu, tiêu biểu như voọc mũi hếch Bắc Bộ, sao la, gà lôi lam mào trắng.

Dù sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú nhưng xu hướng suy giảm vẫn diễn ra. Các nghiên cứu cho thấy nhiều loài đặc hữu tại dãy Trường Sơn có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong vòng 10-15 năm tới rất cao nếu các mối đe dọa không được kiểm soát; quần thể nhiều loài thú và chim trong các khu bảo tồn hiện ở mức thấp.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết, thời gian tới cần thống nhất nhận thức và hành động để ứng xử có trách nhiệm với đa dạng sinh học; tiếp tục hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực để thực hiện các mục tiêu quốc gia về đa dạng sinh học; tăng cường lồng ghép đa dạng sinh học với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và các giải pháp dựa vào thiên nhiên.

Bên cạnh đó, cần triển khai hiệu quả các chiến lược, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học, chú trọng phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là rừng, đất ngập nước, hệ sinh thái biển. Đồng thời, chúng ta cần bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm và thúc đẩy các mô hình sinh kế bền vững gắn bảo tồn đa dạng sinh học; tăng cường kiểm soát tác động tới đa dạng sinh học, ngăn chặn khai thác tài nguyên và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, huy động mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác quốc tế để bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học.