Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt sụt lún, sạt lở và ngập úng nghiêm trọng
ĐBSCL đối mặt sụt lún, sạt lở và ngập úng nghiêm trọng

Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tình trạng sụt lún đất tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong 5 năm gần đây diễn ra với tốc độ đáng báo động, từ dưới 5 cm đến hơn 10 cm. Sụt lún cục bộ đang xảy ra phức tạp trên nhiều tuyến đường dọc kênh rạch, thậm chí tại một số tuyến đê biển, đặc biệt ở những khu vực được ngọt hóa.

Thực trạng sụt lún và sạt lở

Từ năm 2016 đến nay, riêng bán đảo Cà Mau ghi nhận 2.137 điểm sụt lún đất trên các tuyến đường giao thông nông thôn và đê bao ven kênh rạch, với tổng chiều dài 53 km. Về sạt lở, toàn vùng đã xuất hiện 812 điểm, tổng chiều dài hơn 1.210 km, bao gồm 688 điểm sạt lở bờ sông (751 km) và 124 điểm sạt lở bờ biển (459 km). Trong đó, có 315 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm với 619 km, đe dọa trực tiếp đến đê điều, khu dân cư, cơ sở hạ tầng quan trọng, gây mất đất và rừng ngập mặn nghiêm trọng.

Ngập úng gia tăng

Tình trạng ngập úng do triều cường đã gia tăng cả về diện tích và độ sâu. Độ ngập sâu trung bình từ 0,2-0,4 m, tăng 5-6% so với 10 năm trước. Cá biệt, một số nơi ở Cần Thơ và Vĩnh Long ngập sâu 0,6-0,7 m. Thời gian ngập kéo dài 2-4 giờ mỗi đợt triều cường.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Hạn hán và xâm nhập mặn

Hạn hán và xâm nhập mặn cũng diễn biến phức tạp. Dòng chảy về đồng bằng giảm đáng kể, khiến xâm nhập mặn ảnh hưởng sớm hơn 1-1,5 tháng so với trước năm 2013. Trong 10 năm gần đây, ĐBSCL đã trải qua 3 đợt hạn hán, xâm nhập mặn lớn.

Nguyên nhân chính

Các hồ đập thượng nguồn sông Mê Công chặn dòng làm lượng phù sa, trầm tích về vùng giảm hơn 90%. Khai thác cát và nước ngầm quá mức gây sạt lở, sụt lún. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.

Giải pháp ứng phó

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng yêu cầu các đơn vị, địa phương quán triệt và triển khai Kết luận của Bộ Chính trị bằng chương trình cụ thể. Các cấp, ngành cần chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang chủ động thích ứng với thiên tai; quản lý chặt khai thác cát, nước ngầm, xây dựng ven sông rạch; rà soát quy hoạch công trình ngăn mặn trữ ngọt liên vùng. Địa phương chủ động di dân, tái định cư vùng sạt lở; ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên, dân cư để phòng chống thiên tai hiệu quả.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình