Ông Trần Quang Tá, ngụ tại xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk), sở hữu 2,2 ha đất trồng sầu riêng. Những năm gần đây, gia đình ông luân phiên sử dụng thuốc sinh học và hóa học để phòng trừ sâu bệnh. Theo ông Tá, chỉ khi dịch rầy hoặc nhện đỏ bùng phát mạnh, ông mới dùng thuốc hóa học; còn thông thường, ông chỉ sử dụng thuốc sinh học để dưỡng cây, ngừa sâu và phòng nấm.
Ưu điểm vượt trội của thuốc sinh học
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam, cho biết thuốc sinh học khác với thuốc hóa học ở chỗ có tác dụng phòng chống đúng đối tượng gây hại mà không gây kháng thuốc, an toàn cho con người, sinh vật có ích và môi trường. Hơn nữa, thuốc sinh học có thời gian cách ly ngắn hoặc không cần cách ly, không để lại tồn dư hóa chất trên nông sản – một lợi thế lớn cho nông sản xuất khẩu. Nhiều chế phẩm vi sinh còn cải tạo độ phì nhiêu, phục hồi hệ sinh thái đất và tăng sức đề kháng tự nhiên cho cây trồng.
Nhờ những ưu điểm vượt trội, sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện có khoảng 900 tên thương phẩm thuốc sinh học được đăng ký và cấp phép lưu hành. Tính đến tháng 12/2025, cả nước có 97 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, trong đó 86 cơ sở sản xuất thuốc sinh học.
Khó khăn về hành lang pháp lý và quy chuẩn
Mặc dù có chuyển biến đáng ghi nhận, lĩnh vực này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Phạm Văn Toản nhận định, đến nay vẫn chưa có hành lang pháp lý chuyên biệt dành riêng cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Quy trình đăng ký lưu hành và cơ chế quản lý vẫn áp dụng tương tự như thuốc hóa học. Sự linh hoạt trong chính sách mới chỉ dừng lại ở việc cắt giảm một số rào cản thủ tục hành chính, như miễn khảo nghiệm diện hẹp, không bắt buộc giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất đối với thuốc vi sinh vật, và miễn cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải trải qua quy trình khảo nghiệm, xét duyệt hồ sơ phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí.
Một điểm nghẽn khác là thiếu hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ. Quy chuẩn QCVN 01-188:2018 hiện hành có đề cập đến chỉ tiêu chất lượng thuốc sinh học nhưng chưa đủ chi tiết, thiếu tính khả thi. Các tiêu chuẩn quốc gia về thuốc vi sinh vật chỉ thiên về đánh giá hình thức (định danh, đo lường mật độ vi sinh vật) mà bỏ ngỏ yếu tố quan trọng là khả năng và hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại. Điều này khiến khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm đầu ra mang tính hình thức, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Kiến nghị tháo gỡ rào cản
Ngày 18/12/2023, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành Quyết định số 5415/QĐ-BNN-BVTV phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam Nguyễn Văn Sơn cho biết, đề án đưa ra các giải pháp chiến lược như hỗ trợ vốn, ưu tiên ngân sách nghiên cứu, ưu đãi doanh nghiệp khai thác nguyên liệu thảo mộc bản địa và phế phụ phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế triển khai bộc lộ khoảng trống lớn khi hầu hết chính sách hỗ trợ chưa đến được với doanh nghiệp, chưa có quy định cụ thể để hiện thực hóa các ưu đãi.
Ông Nguyễn Văn Sơn kiến nghị cơ quan chức năng sớm xây dựng hành lang pháp lý riêng biệt cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học, tối ưu hóa và cắt giảm thủ tục, chi phí khảo nghiệm. Đồng thời, cần rà soát, hoàn thiện và ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ dành riêng cho nhóm thuốc này; có chính sách hỗ trợ vốn vay, miễn giảm thuế và quỹ đất cho các đơn vị, đặc biệt là doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu thảo mộc bản địa và phụ phẩm nông nghiệp trong nước.
Bài và ảnh: ANH THƯ



