Người Pháp thiết lập nền giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam thế kỷ 19
Người Pháp thiết lập nền giáo dục Pháp - Việt thế kỷ 19

Năm 1862, các đại thần Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp, đại diện triều đình nhà Nguyễn, đã ký hòa ước với Thiếu tướng Bonard, đại diện nước Pháp. Theo đó, Việt Nam phải nhường cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và cho phép chiến thuyền Pháp tự do ra vào sông Mê Kông. Chỉ năm năm sau, vào năm 1867, Pháp tiến đánh chiếm nốt Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Sau khi ổn định tình hình ở Nam Kỳ, Pháp kéo quân ra đánh miền Bắc và ký hòa ước năm 1874 với nhiều quyền lợi. Năm 1882, Pháp tiến đánh Bắc Kỳ lần thứ hai và ký được Hòa ước Giáp Thân năm 1884 (còn gọi là hòa ước Patenôtre), theo đó Việt Nam trên thực tế hoàn toàn đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Việc đầu tiên Pháp làm là đem nấu chảy ấn phong vương của hoàng đế nhà Thanh cấp cho vua nước ta, coi như từ đó nước Nam không còn thần phục nước Tàu nữa.

Khi những người lính hoàn thành nhiệm vụ, những kẻ đi xâm lược phải nghĩ đến công cuộc "khai hóa" cho người dân bản xứ. Vấn đề đặt ra đầu tiên là làm sao để tiếp xúc, giao thiệp với nhau khi cả hai bên đều bất đồng ngôn ngữ. Có hai cách: hoặc chúng ra sức học tiếng nói, chữ viết của người Việt Nam (nhưng chữ Hán, chữ Nôm không phải dễ học, học đến lúc thông thạo thì mất thời gian quá dài); hoặc dạy người Việt Nam học và nói tiếng Pháp (nhưng đội ngũ giáo viên hiện có không đáp ứng nổi). Cả hai giải pháp này đều không dễ dàng thực hiện nhanh chóng trong một sớm một chiều. Cuối cùng, chúng chọn giải pháp là cả đôi bên cùng "hợp tác" sử dụng chữ Việt viết bằng mẫu tự La tinh (chữ Quốc ngữ) đã được giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ đặt ra từ thế kỷ 16. Nhưng việc trước mắt là phải có những người trung gian để giúp đôi bên có thể hiểu nhau. Do đó, tại Nam Kỳ, ngày 21 tháng 9 năm 1861, chúng lập Trung học Pháp - Việt mang tên d'Adran (Pigneau de Béhaine (1741 - 1700), tức Bá Đa Lộc); tại Bắc Kỳ, tháng 1 năm 1886, chúng cũng lập Trường thông ngôn ở phố Jean Dupuis (tên Việt là Đồ Phổ Nghĩa), sau chuyển ra Yên Phụ.

Trong thời gian này, ngày 16 tháng 7 năm 1864, thực dân Pháp ban hành Nghị định thành lập một số trường tiểu học ở các tỉnh để dạy chữ Quốc ngữ và dạy toán. Thế nhưng, tại các làng xã, những trường dạy chữ Hán, chữ Nôm vẫn tồn tại và nhất là trong tâm trí người dân, đây là thứ chữ của lòng "trung quân ái quốc", do đó, không ai có thể xóa nhòa được. Đa số quan niệm học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp là "theo giặc" nên không ai muốn con em mình đi học, nếu bị bắt buộc thì bỏ tiền thuê người khác đi học giùm! Nhưng rồi, không ai có thể cản được xu thế của thời đại, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp dần dần thắng thế và loại hẳn chữ Nho trong hệ thống giáo dục, kể từ khoa thi Hội năm 1919.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

"Chút thân bèo bọt" của chữ Quốc Ngữ

Ngày 6 tháng 4 năm 1878, Thống đốc Nam Kỳ J. Lafont ra quyết định từ ngày 1 tháng 1 năm 1882, tất cả các văn bản chính thức đều phải được viết và công bố bằng chữ Quốc ngữ. Từ nay, việc cử và đề bạt các quan chức phải kèm theo điều kiện là đương sự phải biết chữ Quốc ngữ. Rồi cũng từ ngày 1 tháng 1 năm 1882 đến ngày 1 tháng 1 năm 1886, các hương hào, hương thân sẽ được giảm thuế thân nếu biết chữ Quốc ngữ. Đây cũng là thời điểm mà Pháp thiết lập chương trình giáo dục Pháp - Việt đầu tiên và đặt Sở Học chánh nhằm loại dần chữ Nho: ở Nam Kỳ ngày 17 tháng 3 năm 1879, ở Bắc Kỳ năm 1904 và ở Trung Kỳ năm 1906.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Tất nhiên, cho dù các Nghị định này đã ban hành, nhưng ở các làng, tổng vẫn còn trường dạy chữ Nho - coi đây là sự biểu hiện của lòng yêu nước. Chỉ đến ngày 14 tháng 6 năm 1919, triều Nguyễn ra chỉ dụ tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn các trường chữ Nho và thay thế vào đó bằng hệ thống giáo dục Pháp - Việt thì công cuộc "cải cách" của thực dân Pháp mới thật sự hoàn thành sứ mệnh - tất nhiên chỉ trên mặt công văn, pháp lý.

Chương trình giáo dục Pháp - Việt được phân bổ các cấp như thế nào?

Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Lê Nguyễn cho biết: "Trong thời kỳ đầu của nền giáo dục Pháp - Việt (các thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20) lấy nền tảng là chữ Quốc ngữ. Việc học được chia thành ba cấp:

  • Sơ cấp Tiểu học từ lớp Đồng Ấu đến lớp Ba (nay là lớp 1 đến lớp 3): người học hết cấp này thi lấy bằng Sơ học;
  • Tiểu học: lớp Nhì (gồm lớp Nhì 1 năm và lớp Nhì 2 năm, tương đương lớp 4 ngày nay) và lớp Nhất (lớp 5 ngày nay). Người học hết cấp này thi lấy bằng Tiểu học;
  • Cao đẳng Tiểu học: gồm các lớp Đệ nhất niên, Đệ nhị niên, Đệ tam niên, Đệ tứ niên (tương đương lớp 6 - 9 ngày nay). Người học hết cấp này thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học, sau gọi là bằng Thành Chung hay Đíp-lôm."

Và, đây cũng là lần đầu tiên học sinh được tiếp cận với chương trình giáo dục hoàn toàn mới mẻ, chẳng hạn học các môn ngữ pháp tiếng Pháp; tập đọc chữ Quốc ngữ; phép toán cộng, trừ, nhân, chia, số học, hình học, địa lý, vẽ; hệ thống đo lường có so sánh hai hệ thống đo lường Pháp - Việt… Sau những năm tháng siêng năng dùi mài kinh sử, học sinh thi đậu có thể được bổ nhiệm làm thông ngôn, thư ký, giáo sư bản xứ…

Nhà nghiên cứu Bằng Giang, sau này có nhận xét đau đớn: "Theo Nghị định ngày 17 tháng 3 năm 1879 của Soái phủ Nam Kỳ từ năm học 1879 - 1880, 4/5 chương trình học bằng tiếng Pháp trong vòng 10 năm của ba cấp học. Phần thời gian ít ỏi còn lại bố thí cho chữ Quốc ngữ chỉ còn là 'chút thân bèo bọt'. Còn chữ Nho thì 'học giả hảo, bất học giả hảo' (Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký - NXB Văn học 1994, tr.151)." (còn tiếp)