Hơn 90 năm cuộc đời, Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Vũ Bằng Đình (1935-2026) không chỉ là một nhà khoa học có nhiều đóng góp quan trọng cho nền y học quân đội mà còn là một người lính từng đi qua chiến tranh với trái tim giàu cảm xúc, để lại những vần thơ thấm đẫm tình người và tình đồng đội.
Người đi tìm 'chìa khóa vàng' chống sốt rét giữa khói lửa chiến tranh
Sinh ra và lớn lên nơi dải đất ven bờ sông Luộc thuộc xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, vùng đất thuộc mạch nguồn phố Hiến xưa, cậu thanh niên Vũ Bằng Đình mang theo sự hiếu học và lòng yêu nước thiêng liêng bước vào giảng đường Đại học Y Hà Nội. May mắn được chỉ dạy bởi những bậc đại thụ như Giáo sư Trịnh Ngọc Phan, ông tốt nghiệp chuyên ngành truyền nhiễm và về công tác tại Khoa Truyền nhiễm (nay là Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Bùi Đại.
Những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, hàng nghìn thương bệnh binh từ các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia được chuyển ra miền Bắc điều trị. Trong ký ức của người thầy thuốc quân y ấy, những đợt dịch sốt rét ác tính là nỗi ám ảnh lớn nhất. Khoa Truyền nhiễm chỉ có vài chục giường bệnh nhưng thường xuyên phải tiếp nhận số lượng bệnh nhân gấp nhiều lần công suất. Nhiều chiến sĩ ngã xuống không phải bởi bom đạn mà bởi bệnh tật nơi rừng sâu, biên giới. Chính từ những mất mát ấy đã thôi thúc ông đi tìm lời giải cho căn bệnh từng được xem là 'kẻ thù giấu mặt' của người lính.
Năm 1980, giữa lúc cuộc chiến chống tập đoàn Pol Pot đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, thầy thuốc Vũ Bằng Đình lại lên đường, tăng cường cho Sư đoàn 330 thuộc Mặt trận 979 trong chiến dịch mùa khô. Trước khi đi, ông mang theo một thông tin quý giá từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Trung Quốc vừa phát hiện ra hoạt chất Artemisinin (thanh hao tố) chiết xuất từ cây Thanh hao Hoa vàng có khả năng trị sốt rét rất hiệu quả.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện và lãnh đạo Khoa, trực tiếp là Giáo sư Bùi Đại, bác sĩ Vũ Bằng Đình được phân công ra chốt sát biên giới Campuchia-Thái Lan. Chứng kiến nhiều chiến sĩ tử vong trên đường chuyển tuyến vì không có thuốc đặc hiệu, ông nung nấu ý tưởng nghiên cứu một phương pháp điều trị phù hợp với điều kiện chiến trường.
Trở về nước, ông cùng Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Huỳnh Kiệt (Cục Quân y) ráo riết đi tìm cây thanh hao hoa vàng. Giữa lúc tưởng chừng bế tắc, cuộc gặp gỡ định mệnh với bậc thầy thực vật học - Giáo sư Vũ Văn Chuyên trên một chuyến xe đi giảng dạy đã mở ra ánh sáng. Giáo sư Chuyên chỉ cho ông biết loài cây mang tên khoa học Artemisia Annua L này mọc rất nhiều ở Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc. Như tìm thấy lời giải cho một bài toán lớn, một đoàn nghiên cứu lập tức ngược ngàn lên xứ Lạng.
Cuối năm 1987, Giáo sư Vũ Bằng Đình cùng các cộng sự lập trạm nghiên cứu tại Đội Điều trị 93. Kết quả lâm sàng kỳ diệu ngoài mong đợi: trên 80% bệnh nhân sốt rét được cắt sốt và sạch ký sinh trùng nhờ viên thanh hao thô. Mạch ngầm khoa học cứ thế tuôn chảy. Hoạt chất Artemisinin thuần khiết đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự phối hợp của các nhà khoa học quân y. Các chế phẩm tiêm truyền sau đó đã tạo nên một cuộc cách mạng ngoạn mục: tỷ lệ sốt rét tại các đơn vị chiến đấu từ 70-80% giảm xuống chỉ còn 0-1%; tỷ lệ tử vong từ 10-0% xuống mức gần như bằng không (0-2%). Cây thanh hao hoa vàng từ bờ bụi hoang dại bước vào các nông trường đại trà, cứu sống hàng triệu sinh mạng trong nước và vươn tầm xuất khẩu sang tận châu Phi xa xôi.
Trong sự nghiệp khoa học của mình, Giáo sư Vũ Bằng Đình luôn được đồng nghiệp nhắc đến như một nhà nghiên cứu tận tụy, một người thầy mẫu mực và một cán bộ lãnh đạo giàu trách nhiệm. Trên cương vị Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn 1995-1998, ông đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của bệnh viện, đặt nền móng cho những bước tiến về chuyên môn và nghiên cứu khoa học sau này.
Người thi sĩ phía sau những công trình y học
Phía sau hình ảnh một vị giáo sư quân y nghiêm cẩn lại là một tâm hồn thi sĩ giàu rung cảm. Khi đã bước sang tuổi xế chiều, ông mới công bố tập thơ đầu tay mang tên 'Giọt nắng giọt mưa'. Những bài thơ của ông không nói nhiều về học hàm, học vị hay thành tựu khoa học mà chủ yếu là ký ức về chiến tranh, về đồng đội, về quê hương và những phận người từng đi qua cuộc đời mình. Đó là hình ảnh người lính quân y lặc lè ba lô, túi cứu thương giữa những cung đường Trường Sơn; là những ca mổ dưới hầm dã chiến giữa tiếng bom rơi; là nỗi day dứt trước những đồng đội mãi mãi nằm lại chiến trường. Những trải nghiệm khốc liệt của chiến tranh đi vào thơ ông bằng giọng điệu mộc mạc nhưng chân thành và giàu sức lay động.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng nhận xét rằng đọc thơ Vũ Bằng Đình, người ta gần như quên mất đây là thơ của một nhà khoa học, bởi hiện lên trong từng câu chữ là một trái tim nhạy cảm và tinh tế. Có lẽ chính sự hòa quyện giữa lý trí của một nhà khoa học và tâm hồn của một thi sĩ đã tạo nên chân dung đặc biệt của Giáo sư Vũ Bằng Đình.
Hôm nay, người thầy thuốc quân y ấy đã về với cõi vĩnh hằng. Song những công trình khoa học, những trang sách, những vần thơ và hơn hết là tấm gương về một người trí thức tận hiến cho Tổ quốc, cho Quân đội và nhân dân vẫn còn ở lại. Đó là di sản quý giá mà Giáo sư Vũ Bằng Đình để lại cho các thế hệ thầy thuốc quân y tiếp nối trên hành trình phụng sự và cứu người.



