Chất thải xây dựng Hà Nội vượt 10.000 tấn/ngày, cần tái chế khẩn cấp
Chất thải xây dựng Hà Nội vượt 10.000 tấn/ngày

Lượng chất thải xây dựng tại Hà Nội vượt xa dự báo

Chất thải rắn xây dựng (CTXD) bao gồm phế thải phá dỡ công trình và phế thải xây dựng phát sinh trong quá trình phá dỡ, thi công mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi. Thành phần chủ yếu là các chất vô cơ trơ như bê-tông, gạch vỡ, vữa xây dựng, đất cát, thạch cao, kim loại, gỗ, nhựa... có khối lượng thể tích lớn, có thể tái chế làm vật liệu san lấp, móng đường, cốt liệu bê-tông và gạch không nung.

Theo quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, lượng CTXD của thành phố được dự báo đạt khoảng 3.400 tấn/ngày vào năm 2030 và 4.800 tấn/ngày vào năm 2050. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đã chạm mốc 10.000 tấn/ngày, gấp bốn đến năm lần so với mức trung bình khoảng 2.100 tấn/ngày trước đây. Đáng ngại hơn, hơn 50% CTXD phát sinh tại Hà Nội vẫn chưa được quản lý. Lượng thu gom phần lớn chỉ được xử lý bằng chôn lấp, chỉ vỏn vẹn khoảng 16,7% được nghiền và lưu giữ tạm thời.

Kinh nghiệm quốc tế: Tái chế lên đến 95%

Tại nhiều quốc gia phát triển, tái chế CTXD đã trở thành một phần của chiến lược kinh tế tuần hoàn. Ở châu Âu, tỷ lệ tái chế đạt 70-90% tại một số quốc gia. Phế thải bê-tông và gạch được nghiền sàng để sản xuất cốt liệu tái chế cho bê-tông không kết cấu, lớp móng đường, vật liệu san lấp. Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng quy định nghiêm ngặt về phân loại tại nguồn, kết hợp công nghệ nghiền, tuyển chọn hiện đại, cho phép sử dụng cốt liệu tái chế chất lượng ổn định. Chủ nguồn thải phải có kế hoạch sử dụng chất thải phá dỡ, kết hợp phí chôn lấp cao. Nhờ đó, tỷ lệ tái chế CTXD tại Nhật Bản và Hàn Quốc đều đạt trên 95%. Tại Hoa Kỳ, CTXD được sử dụng rộng rãi làm vật liệu nền móng đường, bãi đỗ xe, đắp nền và san lấp mặt bằng.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

GS, TS Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, nhận định: “Chúng ta đang bỏ phí tài nguyên lớn. Chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế nếu có cơ chế, chính sách đồng bộ, cũng như mô hình phối hợp liên ngành hiệu quả.”

Nguyên nhân và áp lực lên hạ tầng đô thị

Xử lý CTXD hiện là vấn đề nan giải tại Hà Nội và các đô thị lớn như TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng. Nguyên nhân chính là chưa có hệ thống khu xử lý, tái chế được quy hoạch đồng bộ; phân loại tại nguồn còn hạn chế; phương thức chôn lấp vẫn phổ biến với phí xử lý thấp. Khối lượng phế thải lớn gây áp lực đáng kể lên hạ tầng môi trường, khi quỹ đất chôn lấp ngày càng hạn chế.

Trước sức ép này, Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2831/QĐ-UBND (6/6/2025) phê duyệt Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố giai đoạn đến năm 2030” với mục tiêu: 90% chất thải được thu gom đúng quy định; 60% CTXD được tái sử dụng hoặc tái chế; 100% công trình sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng vật liệu tái chế từ CTXD. Trước đó, Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND (7/5/2025) quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động tái chế rác thải sử dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất. Doanh nghiệp tái chế được miễn giảm tiền thuê đất, hỗ trợ công nghệ tái chế tốt nhất.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Mô hình tiên phong và kiến nghị giải pháp

Tại Hà Nội, Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu đã đầu tư dây chuyền xử lý CTXD tại khu đất 6,5 ha ở nút giao Pháp Vân-Cầu Giẽ, phường Hoàng Liệt. Phế thải sau tiếp nhận được phân loại, nghiền, sàng, tuyển chọn tạo sản phẩm tái chế. Tuy nhiên, vẫn còn quá ít đơn vị đầu tư cho lĩnh vực này.

PGS, TS Tống Tôn Kiên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, kiến nghị: các tỉnh, thành phố cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn/ngày. Chính sách mua sắm công cần dẫn dắt thị trường: các dự án sử dụng vốn ngân sách nên quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế. Điều này đặc biệt phù hợp với đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm, nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.

Cần mau chóng xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật về đất đào từ công trình giao thông, nhà ở và công trình tái chế làm vật liệu san lấp. Thay vì mô hình “khai thác - sử dụng - thải bỏ” lãng phí, cần chuyển sang mô hình “khai thác - sản xuất - sử dụng - phá dỡ - thu hồi - tái chế - tái sử dụng”. Ứng dụng công nghệ BIM, thiết kế mô-đun, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, nâng cao khả năng thích ứng của công trình, từ đó tối ưu hóa tài nguyên và giảm chất thải trong vòng đời công trình. Quản lý vật liệu hiệu quả, áp dụng công nghệ thi công hiện đại, thiết lập hệ thống thu gom, tái chế tại công trường cũng góp phần hạn chế chất thải ra môi trường.

Mỗi viên gạch, khối bê-tông, thanh sắt đều được khai thác từ sông, núi. Khi thải bỏ, xã hội mất đi giá trị vật chất còn lại, gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên mới, gây tác động tiêu cực đến môi trường. Quản lý, tái chế khoa học hướng tới bảo vệ môi trường cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, giảm lượng CTXD bị bỏ phí, sử dụng vật liệu xanh, mới có thể tiến tới phát triển xanh, tuần hoàn và bền vững.

Dự thảo Luật sửa đổi hướng tới kinh tế tuần hoàn

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, dự kiến trình Quốc hội trong năm nay. Dự thảo hoàn thiện quy định quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất, tiêu dùng. Dự thảo cụ thể hóa các loại CTXD cần được tái chế, tái sử dụng. Việc xác định các nhóm vật liệu như bê-tông, gạch, đá và cát thải được đánh giá là cơ sở quan trọng để thúc đẩy thu gom, phân loại và tái chế ngay tại nguồn.