Loạt quy định mới về thuế GTGT có hiệu lực từ 20.6
Loạt quy định mới về thuế GTGT có hiệu lực từ 20.6

Kể từ ngày 20.6, một loạt quy định mới về thuế giá trị gia tăng (GTGT) chính thức có hiệu lực, đặc biệt là các điều kiện khấu trừ thuế đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp. Những thay đổi này được quy định tại Nghị định 144/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP.

Bảo hiểm nhân thọ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT

Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 của Nghị định 181/2025/NĐ-CP, quy định về các đối tượng không chịu thuế GTGT. Theo đó, từ ngày 20.6, các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản... đều thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Điều chỉnh quy định về sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản

Nghị định cũng điều chỉnh quy định đối với sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản theo hướng tiếp tục hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô. Danh mục sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản tại các phụ lục kèm theo Nghị định 181/2025/NĐ-CP được thay thế bằng danh mục mới. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương sẽ rà soát, đề xuất điều chỉnh danh mục để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bổ sung căn cứ xác định tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra

Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung căn cứ xác định tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra, bao gồm: doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT; giá trị gia tăng của hoạt động mua - bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Bộ Tài chính quy định cụ thể không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định và luật Thuế GTGT (nếu có). Đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoạt động chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm, doanh thu được xác định theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Sửa quy định về điều kiện khấu trừ thuế đối với hàng hóa mua trả chậm, trả góp

Đáng chú ý, Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp. Cụ thể, đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ đó để khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, nếu cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, thì phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán. Sau khi điều chỉnh, nếu cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, thì được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán.

Trước đó, Nghị định 181/2025/NĐ-CP không có quy định về trường hợp sau khi điều chỉnh nêu trên, dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong thực tiễn. Nhiều doanh nghiệp đã gửi kiến nghị tới cơ quan thuế các địa phương phản ánh vướng mắc. Vấn đề chung là đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, doanh nghiệp vẫn không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt nên không đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Doanh nghiệp đã kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, nhưng sau thời hạn thanh toán, dù có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, nhiều cơ quan thuế địa phương vẫn cho rằng doanh nghiệp không được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Quy định mới tại Nghị định 144/2026/NĐ-CP đã giải quyết vướng mắc này, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện khấu trừ thuế.