Cho vay tiền là một giao dịch dân sự phổ biến, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả số tiền đã vay và chỉ trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro như người vay không trả nợ, người cho vay vi phạm pháp luật hoặc đòi nợ trái quy định. Để tránh những rắc rối này, người cho vay cần áp dụng các phương án sau.
Lập hợp đồng vay bằng văn bản và công chứng
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay. Dù pháp luật không bắt buộc hợp đồng vay phải lập thành văn bản, nhưng để đảm bảo ràng buộc trách nhiệm, hợp đồng nên được viết rõ ràng và công chứng để bảo vệ quyền lợi của bên cho vay.
Chủ thể: rõ người, rõ việc
Phải ghi đầy đủ thông tin từ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (số, ngày cấp, nơi cấp), địa chỉ thường trú và địa chỉ cư trú thực tế. Nếu người vay đã kết hôn, cần yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ký vào giấy vay nợ để xác định đây là nợ chung, theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, giúp việc thi hành án trên tài sản chung dễ dàng hơn.
Nội dung về tiền và mục đích vay
Số tiền phải ghi rõ cả bằng số và bằng chữ để tránh tẩy xóa, sửa chữa. Điểm mấu chốt là xác nhận đã nhận tiền: giấy vay phải có dòng "Bên vay xác nhận đã nhận đủ số tiền... ngay sau khi ký giấy này" hoặc kèm biên nhận chuyển khoản. Điều này tránh trường hợp ký giấy vay nhưng tiền chưa giao, bên vay có thể phản bác hợp đồng chưa có hiệu lực.
Cho vay với lãi suất đúng quy định
Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm. Nếu vượt quá, phần lãi suất vượt không có hiệu lực. Lãi chậm trả cần quy định rõ, thường bằng 150% lãi suất vay, để tạo áp lực thanh toán đúng hạn. Lưu ý: không được ghi lãi suất vượt quá 5 lần mức quy định để tránh bị truy cứu tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, hợp đồng vay chỉ có hiệu lực khi các bên có năng lực pháp luật dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Nên có tài sản bảo đảm cho khoản vay
Để tránh người vay cố tình trây ì không trả nợ, khi cho vay số tiền lớn, người cho vay nên yêu cầu cầm cố, thế chấp tài sản có giá trị thuộc quyền sở hữu của họ. Với tài sản đăng ký quyền sở hữu như ô tô, xe máy, quyền sử dụng đất, cần lập hợp đồng thế chấp và công chứng. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP cho phép cá nhân nhận thế chấp quyền sử dụng đất, nhưng phải tuân thủ quy định về công chứng, đăng ký thế chấp. Khi công chứng, các bên sẽ được tư vấn về điều kiện thế chấp như đất không tranh chấp, đã có giấy chứng nhận, còn thời hạn sử dụng.
Mẫu câu nên có trong giấy vay nợ
"Bên vay cam đoan những thông tin về nhân thân và tài sản là hoàn toàn sự thật. Nếu đến hạn không trả, Bên vay đồng ý để Bên cho vay xử lý tài sản hoặc yêu cầu cơ quan pháp luật can thiệp, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm nếu có dấu hiệu tẩu tán tài sản."
Trong bối cảnh công nghệ năm 2026, cần lưu giữ các bằng chứng kỹ thuật số như tin nhắn Zalo, email xác nhận nợ hoặc ghi âm cuộc gọi để củng cố hồ sơ chứng cứ.
Đòi nợ đúng quy định pháp luật
Không phải người vay nào cũng trả nợ đúng hạn. Ranh giới giữa đòi nợ hợp pháp và không hợp pháp rất mong manh, nhiều vụ án hình sự đã xảy ra do hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ. Cần đòi nợ hợp tình, hợp lý, tránh hành vi vi phạm.
Không giữ giấy tờ tùy thân của người vay
Nhiều người cho vay giữ chứng minh nhân dân, căn cước công dân của người vay để làm tin. Tuy nhiên, theo Điều 7 Luật Căn cước công dân 2014, hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép thẻ căn cước công dân của người khác bị nghiêm cấm. Chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được tạm giữ thẻ căn cước. Việc cho vay tiền giữ căn cước là vi phạm pháp luật.



