Ngành lúa gạo Việt Nam đang đối mặt với sức ép lớn khi chi phí sản xuất tăng mạnh trong khi giá đầu ra giảm, đặc biệt là từ thị trường Philippines – khách hàng tiêu thụ chính – liên tục thay đổi chính sách để hạ giá gạo.
Giá giảm, chi phí tăng, người trồng lúa khó khăn
Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang vào vụ thu hoạch lúa hè thu. Dù giá lúa có tăng nhẹ vài trăm đồng/kg so với vụ đông xuân, nhưng bà con lại lỗ nặng hơn vì chi phí tăng và năng suất giảm. Ông Dương Văn Siêu, Phó giám đốc Hợp tác xã Thuận Thắng (TP. Cần Thơ), cho biết: Phần đất của gia đình và bà con trong HTX mới thu hoạch xong cách đây khoảng 10 ngày, năng suất đạt 600 kg/công. Dù giảm từ 150 - 200 kg so với bình thường các năm nhưng đã được xem là trúng, vì một số hộ trong vùng chỉ đạt 400 - 450 kg/công.
Nguyên nhân là năm nay nhiều người gieo sạ vào đúng thời điểm nắng nóng gay gắt, cây mạ không phát triển được; do vậy phải mất đôi ba lần phun thuốc xử lý dinh dưỡng để cây phát triển. Thêm vào đó, năm nay giá phân bón các loại tăng bình quân 50 - 70% so với trước.
“Vụ đông xuân vừa rồi nhiều người đã lỗ khi giá lúa giảm mạnh. Đến vụ hè thu, dù giá có tăng nhẹ nhưng ngược lại chi phí sản xuất cũng tăng và năng suất giảm khiến nhiều người rơi vào cảnh càng làm càng lỗ. Với những hộ thuê đất, ước tính mức độ thua lỗ đã tăng lên khoảng 1 triệu đồng/công. Do vậy, hiện nay nhiều người tạm ngưng xuống giống vụ tiếp theo. Bản thân tôi có đất nhà nên vẫn tiếp tục nhưng cũng rất lo vì thường khi thu hoạch lúa thu đông rơi mùa mưa bão khiến năng suất và chất lượng thấp, nên giá cũng không cao”, ông Siêu lo lắng.
Sản lượng giảm, dịch bệnh gia tăng
Một số doanh nghiệp ở ĐBSCL cũng thừa nhận, vụ hè thu năm nay sản lượng rất thấp vì mất mùa; một phần do thời tiết, phần khác do giá phân bón quá cao nhưng giá lúa thấp nên nhà nông không còn mặn mà. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận: Tính đến cuối tháng 6, diện tích gieo cấy lúa hè thu cả nước chỉ đạt 1,71 triệu ha, giảm 4,3% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, một số dịch bệnh trên lúa phát triển mạnh so với cùng kỳ như bệnh đạo ôn lá tăng 24%, đạo ôn cổ bông tăng 50%, bệnh bạc lá tăng 40%, bệnh khô vằn tăng 18%, ốc bươu vàng hại lúa tăng 38%. Chưa có báo cáo cụ thể về sản lượng nhưng khi diện tích sản xuất giảm và dịch bệnh phát triển thì năng suất cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
Thị trường xuất khẩu nhiều biến động
Trong khi sản xuất lúa gạo của Việt Nam hết sức khó khăn thì thị trường xuất khẩu cũng gặp nhiều thách thức. Đáng chú ý là giá xuất khẩu duy trì mức thấp kéo dài từ tháng 9.2025 tới nay. Thị trường xuất khẩu quan trọng là Philippines liên tục thay đổi chính sách gây biến động lớn về giá. Cụ thể như Philippines tạm ngưng nhập khẩu trong 3 tháng cuối năm 2025 khiến giá gạo Việt Nam rơi xuống đáy. Sau đó, vào đầu năm 2026 nước này lại đẩy mạnh nhập khẩu và 6 tháng qua đã nhập trên 2,7 triệu tấn, tăng đến 20% so với cùng kỳ. Cuối tháng 6, Philippines lại thông báo trong tháng 7 tạm ngưng cấp phép nhập khẩu gạo 5% tấm - loại gạo nhập khẩu chủ lực. Mới nhất, đầu tuần nước này lại cân nhắc tăng thuế nhập khẩu ít nhất 13% với gạo từ Việt Nam và các nước Thái Lan, Pakistan, Myanmar nhằm bảo vệ sản xuất nội địa.
Việc áp đặt các biện pháp tự vệ của nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới đã vấp phải sự phản ứng từ Pakistan. Đại diện Bộ Thương mại và Đầu tư của Pakistan cho rằng các biện pháp tự vệ của Philippines có thể vi phạm các quy tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong 6 tháng đầu năm nay, Pakistan là nhà cung cấp gạo lớn thứ 5 cho Philippines với sản lượng 3.866 tấn.
Giá tăng sẽ không còn gạo để bán
Philippines là nhà nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới nên mỗi khi nước này điều chỉnh chính sách cũng khiến thị trường biến động. Theo các doanh nghiệp, ngoài Philippines, Việt Nam có một số thị trường truyền thống là châu Phi và Trung Quốc nên cơ bản vẫn có đầu ra. Cụ thể như mỗi khi Philippines ngưng nhập thì có thị trường Trung Quốc và châu Phi bù vào nhưng giá gạo không tăng nên nông dân và doanh nghiệp đều không có lãi.
Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho biết nhu cầu gạo của Philippines trong phần còn lại của năm 2026 vẫn còn rất cao, Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo đến 5,6 triệu tấn. Nhưng việc họ cứ đóng - mở liên tục, chính sách thay đổi từng tháng khiến hoạt động xuất khẩu của chúng ta bị ảnh hưởng nhiều. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất trên 5 triệu tấn gạo nên giai đoạn cuối năm chúng ta không có áp lực bán hàng hay giải quyết tồn kho. Nhưng giá lúa thấp ảnh hưởng đến nông dân là áp lực cần được giải quyết. Với sự xuất hiện của El Nino, dự báo nhu cầu nhập khẩu và giá gạo sẽ tăng vào cuối năm nay. Do vậy, Việt Nam cũng cần có chính sách để bảo vệ và hỗ trợ nông dân trồng lúa.
Đồng quan điểm, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TP. Cần Thơ), nói rằng về lâu dài cần có chính sách phát triển bền vững cho ngành lúa gạo, phải gắn được sản xuất với thị trường tiêu thụ. Cần hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp liên kết sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với thị trường; phát triển các sản phẩm gạo chất lượng cao, phát thải thấp để xâm nhập các thị trường cao cấp.
Giải pháp từ góc độ vĩ mô
Ở góc độ vĩ mô, TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), nhận định: Ngành hàng lương thực mà cụ thể là lúa gạo Việt Nam đang chịu tác động nhiều mặt về thời tiết và địa chính trị ảnh hưởng đến giá phân bón. Thêm vào đó, diện tích và năng suất sản xuất đều giảm, gây ảnh hưởng đến nguồn cung. Thời gian qua, các nước đều tăng cường kho dự trữ lương thực nên trước mắt nhu cầu nhập khẩu gạo chưa tăng mạnh. Tuy nhiên trong trung và dài hạn, nhu cầu nhập khẩu gạo có khả năng tăng mạnh và khi đó có thể chúng ta cũng không còn gạo để bán. Do vậy, ngay từ bây giờ chúng ta cần có sự chuẩn bị cho các tình huống sắp tới với xu hướng thời tiết cực đoan.
“Ở cấp độ nông dân, họ khó có thể làm gì vì không có cơ sở hạ tầng để dự trữ. Vì vậy câu chuyện cần bắt đầu từ cấp độ doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng 'mỏng lưng' - ít vốn, nên cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước liên quan đến các chính sách thu mua tạm trữ, thị trường chính phủ với chính phủ (G2G)…”, ông Đặng Kim Sơn nói và đề xuất ngay từ thời điểm này cơ quan dự trữ quốc gia cũng cần có chính sách tăng cường thu mua dự trữ trong dài hạn.
Các địa phương có nguy cơ cao bị ảnh hưởng thiên tai (nắng nóng, lũ lụt) thì chính quyền cần tăng cường dự trữ để sử dụng trong các tình huống cấp thiết. Tuyệt đối không nên chủ quan vì khi giá gạo xuất khẩu tăng thì giá nội địa cũng tăng theo rất nhanh. Khi đó, nó sẽ tác động rất nhiều đến người dân có thu nhập thấp.



