Chuyên gia đề xuất giải pháp đột phá để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số
Trong bối cảnh phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" được xác định là động lực quan trọng nhằm hiện thực hóa khát vọng vươn lên của dân tộc. Để đạt được mục tiêu này, các chuyên gia và nhà khoa học nhận định Việt Nam cần thực hiện đồng bộ "bốn nguyên tắc" cốt lõi mà Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đề ra, đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững.
Không đánh đổi chất lượng và tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Hùng Cường, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng trong bốn nguyên tắc cốt lõi, nguyên tắc đầu tiên "Tăng trưởng thực chất" thể hiện quan điểm và tầm nhìn cần đảm bảo tính hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong dài hạn. Ông nhấn mạnh Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào các động lực tăng trưởng truyền thống như khai thác tài nguyên, xuất khẩu hàng gia công dựa trên lao động chi phí thấp, hay đầu tư công trong điều kiện ngân sách hạn hẹp. Thay vào đó, cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hàm lượng tri thức.
Với mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Phó Giáo sư Cường chỉ ra rằng nền kinh tế và lực lượng doanh nghiệp vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau giai đoạn suy thoái và đứt gãy chuỗi cung ứng do dịch COVID-19, gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách. Trong khi đó, Chính phủ vẫn phải đảm bảo an sinh xã hội, dẫn đến áp lực đầu tư công lên ngân sách nhà nước là rất lớn.
Do đó, theo ông, Việt Nam cần xây dựng thêm nhiều công trình và hạ tầng kinh tế trọng điểm, hiện đại, đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Giải pháp căn cơ và hợp lý nhất là tăng cường sử dụng vốn nhà nước như đầu tư mồi, phát huy hiệu quả mô hình hợp tác công-tư trong các dự án trọng điểm có tính lan tỏa. Điều quan trọng là cần phân loại từng công trình, xác định cơ chế và phương thức hợp tác công-tư phù hợp, đảm bảo tính hấp dẫn và độ tin cậy để thu hút đầu tư tư nhân.
Trước áp lực lớn đặt lên các ngành chủ lực và vùng kinh tế trọng điểm, rào cản thể chế vẫn là vấn đề then chốt. Để tháo gỡ, Phó Giáo sư Cường đề xuất Nhà nước cần xây dựng cơ chế Sandbox, áp dụng mô hình thí điểm cho các đặc khu kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm, cho phép các dịch vụ và mô hình kinh doanh mới vận hành vượt ra ngoài quy định hiện hành để tạo sự bứt phá. Các bộ, ngành và địa phương cần nâng cao hiệu quả các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất. Đồng thời, minh bạch hóa hợp tác công-tư thông qua việc xây dựng khung pháp lý đặc thù và rõ ràng cho từng công trình để tạo niềm tin tuyệt đối cho nhà đầu tư.
Phó Giáo sư Cường khẳng định việc thực thi bốn nguyên tắc cốt lõi đòi hỏi sự nhạy bén của Chính phủ trong phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ. Mục tiêu là khơi thông dòng vốn vào nền kinh tế thực và khu vực sản xuất, tăng thu ngân sách nhưng vẫn kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân.
Đưa sản phẩm khoa học thành hàng hóa quy mô lớn
Ấn tượng với nguyên tắc thứ ba nhấn mạnh việc tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công-tư, Giáo sư, Viện sỹ Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, cho rằng nhiều viện nghiên cứu công lập đang sở hữu những bộ gene quý nhưng thiếu nguồn lực để thương mại hóa. Các viện nghiên cứu và nhà khoa học thường chỉ đủ nguồn lực triển khai mô hình trình diễn trên quy mô hẹp, từ 5 đến 10 ha. Chỉ khi có sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp, diện tích sản xuất mới có thể mở rộng lên hàng triệu ha, gắn liền với việc xây dựng thương hiệu quốc gia và quốc tế.
Để các sản phẩm khoa học nhanh chóng đi vào thực tiễn, theo Giáo sư Long, cần một "cú hích" từ mô hình hợp tác công-tư, bởi doanh nghiệp rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ thống trang thiết bị và các phòng thí nghiệm trọng điểm từ các viện nghiên cứu để hiện thực hóa giá trị thương phẩm. Ông nhận định: "Nếu sản xuất theo chuỗi giá trị và chú trọng chế biến sâu, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam không chỉ dừng lại ở con số hơn 72 tỷ USD vào năm 2025 mà hoàn toàn có thể chạm mốc hàng trăm tỷ USD trong tương lai."
Những năm qua, ngành giống cây trồng Việt Nam đã ghi dấu ấn đậm nét trên bản đồ nông nghiệp toàn cầu. Không chỉ sở hữu những giống lúa đạt danh hiệu gạo ngon nhất thế giới vào các năm 2019, 2023 và 2025, Việt Nam còn phát triển thành công nhiều giống lúa chất lượng cao, đẩy giá xuất khẩu lên tới 1.000-1.300 USD/tấn, gấp đôi so với mức giá bình quân thông thường.
Tuy nhiên, một thực tế đáng chú ý là Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu hạt giống rau, hoa và quả cao cấp. Trước bối cảnh đó, Giáo sư Long cho rằng việc làm chủ các công nghệ chiến lược như công nghệ sinh học và chỉnh sửa gen là nhiệm vụ cấp bách. Mục tiêu trọng tâm là tạo ra các bộ giống không chỉ đảm bảo chất lượng vượt trội mà còn thích ứng tốt với biến đổi khí hậu, giảm chi phí đầu vào và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế.
Nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và tăng thu nhập cho nông dân, Giáo sư Long đề xuất Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, đồng đầu tư cùng doanh nghiệp để nâng tầm giá trị nông sản. Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân: chuyển giao giống mới, cung cấp giải pháp kỹ thuật tổng hợp và bao tiêu sản phẩm, giúp ổn định giá thu mua cho người dân. Người nông dân không còn đơn độc mà có thể tham gia trực tiếp, trở thành "công nhân nông nghiệp" ngay tại các doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất và chế biến lớn. Đây chính là lộ trình thực chất để vừa phát triển công nghiệp nông nghiệp, vừa đảm bảo lợi ích hài hòa và bền vững cho người lao động.



