Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) đưa vào vận hành từ cuối tháng 6 vừa qua, được xây dựng trên nền tảng dữ liệu dùng chung, phục vụ quản lý, sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi. Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin của hơn 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm sản phẩm từ 170 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố.
Truy xuất nguồn gốc – yêu cầu tất yếu cho nông sản Việt
Theo lãnh đạo Bộ NN-MT, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm. Việc đưa hệ thống vào hoạt động sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong giám sát, cảnh báo, truy xuất và xử lý khi phát sinh vấn đề về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Niềm tin và minh bạch cho người tiêu dùng
Ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, khẳng định: "Truy xuất nguồn gốc là nền tảng của mọi hoạt động phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới, không chỉ để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu mà còn phục vụ công tác quản lý của ngành nông nghiệp. Việc Chính phủ đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia là bước đi đầu tiên trong lộ trình xây dựng bản đồ nông nghiệp quốc gia do Bộ NN-MT triển khai. Bản đồ này sẽ bao quát toàn bộ lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản."
Ông Khoa nhấn mạnh: "Ở góc độ thị trường, truy xuất nguồn gốc trước hết giúp tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng. Trước đây, phần lớn nông sản bán trên thị trường nội địa chưa có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, trong khi những sản phẩm đạt tiêu chuẩn thường được ưu tiên xuất khẩu. Người tiêu dùng trong nước vì vậy khó biết chính xác sản phẩm mình mua được sản xuất ở đâu hay có đúng xuất xứ được giới thiệu hay không. Ví dụ như cùng một loại nông sản nhưng có thể được đưa từ địa phương này sang địa phương khác rồi gắn tên vùng trồng khác để bán. Khi có hệ thống truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng có thể xác định được chính xác xuất xứ sản phẩm, còn cơ quan quản lý cũng có thêm công cụ để quản lý vùng trồng trên phạm vi toàn quốc."
Áp lực từ chuỗi cung ứng và yêu cầu minh bạch
Một đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) thừa nhận việc truy xuất nguồn gốc xuyên suốt và có khả năng kết nối đang trở thành nền tảng bắt buộc đối với ngành thủy sản. Trước áp lực ngày càng lớn từ nhà đầu tư, cơ quan quản lý và đối tác chuỗi cung ứng, doanh nghiệp buộc phải minh bạch và chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhận định: "Việc Chính phủ đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia vào vận hành là bước đi cần thiết và lẽ ra phải được triển khai từ nhiều năm trước, bởi truy xuất nguồn gốc là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hiện đại. Nếu không minh bạch được toàn bộ quá trình canh tác thông qua nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc thì rất khó chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình an toàn, sạch và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng."
Cần chuẩn hóa quy trình sản xuất để phát huy giá trị
Ông Nguyễn Văn Mười nhấn mạnh: "Công nghệ truy xuất nguồn gốc chỉ là công cụ hỗ trợ minh bạch thông tin chứ không thể tự nâng cao chất lượng nông sản. Yếu tố quyết định chất lượng vẫn là quy trình sản xuất. Nếu chỉ đưa công nghệ vào mà quy trình sản xuất chưa được chuẩn hóa thì việc truy xuất nguồn gốc cũng không thể làm thay đổi chất lượng nông sản. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải giúp nông dân chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật. Khi đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc mới phát huy đầy đủ giá trị."
Thách thức với ngành khai thác biển và kế hoạch mở rộng
Theo VASEP, trong khi các doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến nỗ lực khép kín chuỗi sản xuất, xây dựng thương hiệu và uy tín với khách hàng quốc tế thì thực trạng khai thác biển vẫn còn nhiều khoảng trống khiến quá trình truy xuất gặp khó khăn. Các sản phẩm như ruốc biển, ghẹ và một số nguồn lợi khai thác ven bờ có giá trị kinh tế, sinh kế và xuất khẩu, nhưng với hiện trạng tàu nhỏ, nghề nhỏ, chuỗi thu mua nhỏ lẻ thì vẫn có nguy cơ khó đáp ứng yêu cầu hồ sơ, truy xuất và chứng nhận xuất khẩu.
Lãnh đạo Bộ NN-MT cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc. Bộ cũng sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng hệ thống một cách hiệu quả, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Năng lực kỹ thuật của hệ thống
Theo kết quả kiểm thử, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây; 30.000 người quét tem truy xuất đồng thời; trên 85 triệu lượt quét tem truy xuất/ngày và khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng để hệ thống mở rộng khi triển khai trên phạm vi toàn quốc trong thời gian tới.



