Từ ngày 1/6 đến 24/6, tổng tiêu thụ xăng sinh học (E5, E10) trên toàn quốc đạt khoảng 850 triệu lít. Trong đó, xăng E10 khoảng 800 triệu lít (chiếm 94,12%) và xăng E5 khoảng 50 triệu lít. Thông tin được ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương chia sẻ tại tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt” do báo Công Thương tổ chức sáng 30/6.
Phân phối xăng E10 diễn ra đúng tiến độ
Theo ông Nam, sau gần một tháng triển khai, việc phân phối xăng sinh học E10 cơ bản diễn ra đúng tiến độ, nguồn cung được đảm bảo và hệ thống phân phối vận hành ổn định. Các số liệu về tổng mức tiêu thụ xăng sinh học cho thấy người tiêu dùng đang thích nghi khá nhanh với loại nhiên liệu mới.
Tại TPHCM - địa bàn tiêu thụ xăng dầu lớn nhất cả nước, chiếm gần 20% sản lượng toàn quốc - quá trình chuyển đổi cũng diễn ra thuận lợi nhờ sự chuẩn bị từ sớm. Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TPHCM cho biết, thành phố đã khuyến cáo các doanh nghiệp ngừng nhập xăng khoáng trước ngày 25/5 để giải phóng hàng tồn, chuyển sang nhập xăng E10. Nhờ đó, khi chính thức triển khai từ ngày 1/6, nguồn cung E10 luôn ổn định, chưa ghi nhận phản ánh tiêu cực từ người dân cũng như không xảy ra tình trạng gián đoạn nguồn cung hay biến động bất thường tại hệ thống bán lẻ.
Xăng E10 tương thích với phần lớn động cơ
Về mặt kỹ thuật, ông Nguyễn Thanh Bình, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ôtô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam cho rằng những lo ngại xăng E10 gây hại động cơ hiện chưa có cơ sở khoa học. Theo ông, xăng E10 đã được ban hành theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8401:2024, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật và an toàn đối với phương tiện.
Đồng quan điểm, PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ hóa học, Đại học Công Thương TPHCM cho biết xăng E10 giúp quá trình cháy diễn ra hoàn toàn hơn, qua đó giảm phát thải CO, CO2, hạn chế muội than và cặn bám trong động cơ. Bên cạnh lợi ích môi trường, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn góp phần mở rộng đầu ra cho các nông sản như sắn, mía và các phụ phẩm nông nghiệp.
Tuy nhiên, theo ông An, do người tiêu dùng không thể quan sát trực tiếp hiệu quả cháy trong động cơ nên quyết định sử dụng E10 hiện chủ yếu dựa trên niềm tin. Vì vậy, cần có chiến lược truyền thông bài bản để người dân yên tâm thay đổi thói quen sử dụng nhiên liệu.
Thách thức về tâm lý và nguồn cung
Dù việc triển khai bước đầu đạt kết quả tích cực, ông Nguyễn Thành Nam cho biết vẫn còn nhiều thách thức cần tháo gỡ. Một trong những vấn đề lớn nhất là tâm lý e ngại của người sử dụng xe đời cũ dùng bộ chế hòa khí cùng với các thông tin thiếu kiểm chứng lan truyền trên mạng xã hội. Theo ông, dù chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy xăng E10 gây hại động cơ, cơ quan quản lý vẫn cần phối hợp với các hãng xe để kiểm chứng, công bố danh mục các dòng xe tương thích, qua đó định hướng dư luận và tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng.
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng nhìn nhận việc chưa tự chủ được nguồn cung là thách thức lớn đối với lộ trình phát triển xăng E10. Năng lực sản xuất xăng sinh học trong nước hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu lâu dài trên phạm vi toàn quốc, nên vẫn phải kết hợp giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu.
Chính sách và giải pháp thúc đẩy
Để tháo gỡ những vướng mắc này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/2026/NĐ-CP ngày 16/6 nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế điều hành phát triển thị trường xăng sinh học. Bộ Công Thương cho biết sẽ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng lực lượng Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra chất lượng ở tất cả các khâu từ pha chế, phối trộn đến lưu thông; đồng thời công khai giá cơ sở và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại.
Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện PVOIL - đơn vị tiên phong phân phối đồng loạt xăng E10 từ ngày 15/5 - cho biết doanh nghiệp đã chủ động chuyển phương thức pha chế từ theo từng lô sang xuất hàng liên tục nhằm rút ngắn thời gian và nâng cao năng lực cung ứng. Doanh nghiệp hiện cũng duy trì lượng ethanol dự trữ đủ sử dụng trong khoảng hai năm để ứng phó với biến động của thị trường.
Cần chính sách dài hạn để phát triển nhiên liệu sinh học
Để hướng tới các mục tiêu cao hơn như E15 hay E20 sau năm 2030, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần xây dựng chính sách dài hạn đối với nhiên liệu sinh học. PGS.TS Ngô Thanh An kiến nghị tập trung vào ba trụ cột gồm: làm chủ công nghệ sản xuất ethanol thế hệ hai từ phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía; tăng cường liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và giới nghiên cứu; đồng thời đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về công nghệ sinh học, đánh giá vòng đời sản phẩm và quản lý tín chỉ carbon để tạo thêm nguồn thu từ giảm phát thải.
Bên cạnh đó, theo ông An, Chính phủ cần có các cam kết dài hạn về chính sách thuế, tín dụng xanh và hệ thống quy chuẩn chất lượng rõ ràng, tương thích với tiêu chuẩn quốc tế. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nhiên liệu sinh học và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh tại Việt Nam.



