Cục Thống kê công bố, tính đến ngày 31/5/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký mới ghi nhận 1.576 dự án được cấp phép với tổng số vốn 14,84 tỷ USD, tăng 1,7% về số dự án và gấp 2,1 lần về vốn đăng ký. Bên cạnh đó, có 1.164 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị 4,19 tỷ USD, tăng 46,7%. Riêng vốn đăng ký điều chỉnh giảm 32,1%.
Cơ hội thu hút vốn FDI thế hệ mới
Đáng lưu ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là tâm điểm thu hút dòng đầu tư nước ngoài, chiếm 70,4% tổng vốn cấp mới và tăng thêm. Singapore là nhà đầu tư lớn nhất trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 với quy mô 6,8 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản. Điểm tích cực khác là vốn thực hiện của các dự án FDI đạt mức cao nhất so với cùng kỳ 5 năm gần đây, với giải ngân 9,75 tỷ USD, tăng 9,6%.
Tăng hiệu quả thu hút vốn FDI
Cục Đầu tư nước ngoài chỉ ra một số điểm nhấn trong tình hình thu hút vốn FDI 5 tháng đầu năm 2026: vốn thực hiện tiếp tục gia tăng, góp phần quan trọng hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu, giải quyết việc làm và tăng trưởng kinh tế, đồng thời phản ánh niềm tin của nhà đầu tư cũng như mức độ hiện thực hóa cam kết đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh dòng vốn đầu tư quốc tế còn thận trọng. Cơ cấu dòng vốn cho thấy xu hướng phân hóa rõ nét: vốn đăng ký mới và hoạt động góp vốn, mua cổ phần tăng mạnh, trong khi vốn điều chỉnh giảm. Vốn đầu tư tiếp tục chảy vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa; cho thấy nhu cầu đầu tư vào năng lượng, hạ tầng sản xuất vẫn lớn.
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, kết quả thu hút vốn FDI là tích cực nhưng chưa đồng đều, chưa thật sự bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ thu hút theo số lượng sang thu hút có chọn lọc. Không chỉ tăng về quy mô, vốn FDI vào Việt Nam đang dịch chuyển sang các lĩnh vực có giá trị cao hơn như công nghệ xanh, bán dẫn, điện tử với sự hiện diện và mở rộng đầu tư của những tập đoàn lớn như LG, Samsung, Foxconn.
Thu hút vốn FDI trong giai đoạn phát triển mới của đất nước không chỉ gắn với mục tiêu giải quyết việc làm mà phải gắn với công nghệ cao, chuyển đổi xanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu tận dụng tốt cơ hội từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra, thu hút vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam có thể bước lên nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị trong chu kỳ công nghệ mới. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) nhấn mạnh điều này.
Giải bài toán liên kết
Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, dòng vốn FDI vẫn chưa tạo hiệu ứng lan tỏa như kỳ vọng do điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Theo ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công thương, khu vực FDI chiếm từ 70-72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tạo ra phần lớn các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và đóng góp khoảng 20% GDP. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành công nghiệp chủ lực vẫn ở mức khiêm tốn, nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để giải bài toán liên kết, Bộ Công thương sẽ hỗ trợ doanh nghiệp từng bước chuyển dịch mô hình sản xuất từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ, vật liệu, linh kiện và năng lực thiết kế thông qua tập trung triển khai các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu phát triển (R&D), hoàn thiện hạ tầng thử nghiệm, kiểm định, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, các chính sách hướng tới phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa đủ mạnh nhằm xây dựng nền công nghiệp tự chủ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tạo giá trị gia tăng cao hơn và nâng cao sức chống chịu trước biến động từ bên ngoài.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, cho rằng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là nền tảng quan trọng để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của đất nước. Bà cũng nhận định thu hút vốn FDI đang chuyển sang chu kỳ phát triển mới, các doanh nghiệp FDI thế hệ mới quan tâm đến tiêu chuẩn chất lượng, quản trị theo công nghệ quốc tế bên cạnh lợi thế nhân công giá rẻ. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng tiêu chuẩn mới của đối tác để tham gia chuỗi cung ứng. Về phía Nhà nước, các chính sách hỗ trợ cần có độ mở và ổn định, tạo không gian cho doanh nghiệp tiếp cận, thụ hưởng để chuyển thành nguồn lực phát triển. Hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đại học, trường dạy nghề trong đào tạo nhân lực chất lượng cao cần chặt chẽ và thiết thực hơn, đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.



