Đưa Việt Nam thành điểm đến của dòng vốn ngoại chất lượng cao
Đưa Việt Nam thành điểm đến của dòng vốn ngoại

Ngày 15/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết này đánh dấu bước chuyển đổi tư duy chiến lược, từ thu hút vốn số lượng sang thu hút vốn chất lượng cao, nhằm đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn ngoại trên toàn cầu.

Thu hút vốn ngoại chất lượng cao

Nghị quyết số 10 (NQ10) khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ bổ sung vốn trung và dài hạn mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường. Quan điểm của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cụ thể, chuyển từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nghị quyết cũng nhấn mạnh phát triển đồng bộ hệ sinh thái đầu tư nước ngoài gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu và năng lượng. Đồng thời, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài thành lập trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế và dịch vụ tại Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

NQ10 đặt ra các mục tiêu cụ thể: Đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Thu hút vốn FDI đăng ký khoảng 200-300 tỉ USD (40-50 tỉ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỉ USD (30-40 tỉ USD/năm). Trong đó, 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, ngân quỹ, mua sắm và dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng và trung tâm R&D tại Việt Nam. Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

TS Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH-ĐT, nay thuộc Bộ Tài chính), đánh giá NQ10 giúp định hình mô hình FDI thế hệ mới cho Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu gay gắt, chuỗi cung ứng quốc tế tái cấu trúc mạnh mẽ. Ông nhấn mạnh điểm mới quan trọng là chuyển từ tư duy 'thu hút nhiều vốn hơn' sang 'thu hút FDI chất lượng cao hơn', hướng tới tiếp nhận công nghệ tiên tiến, nâng cao giá trị gia tăng trong nước, năng lực đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế. Các chỉ tiêu này khả thi nếu triển khai đồng bộ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Tăng tốc thu hút FDI công nghệ cao

GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), nhận xét: NQ10 là định hướng kịp thời, đúng đắn, làm mạnh nền kinh tế sau NQ68 về phát triển kinh tế tư nhân và NQ79 về khoa học công nghệ. Việc chuyển từ thu hút FDI dựa trên lợi thế chi phí thấp sang lựa chọn dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và lan tỏa mạnh đến doanh nghiệp trong nước sẽ giúp Việt Nam tăng tốc tăng trưởng kinh tế.

Thực tế dòng vốn FDI vào Việt Nam

Trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 25 tỉ USD, tăng gần 35% so với cùng kỳ; vốn thực hiện ước đạt 9,75 tỉ USD, tăng 9,6% và là mức cao nhất cùng kỳ trong 5 năm qua. Dòng vốn ngoại đang chuyển dịch mạnh sang công nghệ cao và kinh tế xanh. Ví dụ, ngày 18/5, dự án nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập (Nghệ An) với tổng vốn đầu tư hơn 59.372 tỉ đồng (tương đương 2,2 tỉ USD) được khởi công, thuộc Quy hoạch điện 8, dự kiến tiêu thụ 1,15 triệu tấn LNG nhập khẩu mỗi năm.

Hiệu quả kinh doanh là lý do chính khiến nhà đầu tư ngoại chọn Việt Nam. Samsung, với lợi nhuận hàng tỉ USD tại Việt Nam, được coi là 'cỗ máy kiếm tiền' lớn nhất trong khối FDI. Năm 2025, tổng doanh thu của Samsung tại Việt Nam đạt 59,7 tỉ USD (tăng 8%), lợi nhuận ròng 3,53 tỉ USD (tăng 12%). Riêng Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) đóng góp 1,61 tỉ USD lợi nhuận, cao nhất trong hệ thống. Các nhà máy tại Việt Nam đóng góp 25,4% doanh thu toàn cầu và gần 10% lợi nhuận hợp nhất của tập đoàn. Trong quý I/2026, 4 công ty con của Samsung tại Việt Nam mang về tổng doanh thu 17,72 tỉ USD, lợi nhuận ròng 1,3 tỉ USD. Tương tự, nhà đầu tư Nhật Bản Aeon duy trì biên lợi nhuận tốt nhờ sức mua nội địa, với lợi nhuận tại Việt Nam khoảng 730-780 tỉ đồng trong năm tài chính 2024.

GS-TS Võ Xuân Vinh nhận xét: Thực tế hoạt động của Samsung và Aeon cho thấy Việt Nam không chỉ là điểm đến của dòng vốn FDI quy mô lớn mà còn là thị trường tạo lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài, phản ánh sự cải thiện môi trường đầu tư, quy mô thị trường và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ông nhấn mạnh: 'Việt Nam có lợi thế lớn về môi trường chính trị - xã hội an ninh, an toàn. Vốn giải ngân tăng chứng tỏ cam kết của nhà đầu tư được thực thi nghiêm túc, họ tin tưởng môi trường đầu tư, xác định đây là vùng đất hấp dẫn có thể gia tăng lợi nhuận, định hướng lâu dài, an toàn và không rủi ro chính trị - xã hội.'

TS Phan Hữu Thắng phân tích: Thế giới bước vào thời kỳ chuyển đổi số toàn diện với AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch năng lượng. Các tập đoàn đa quốc gia tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng hóa địa điểm đầu tư, giảm phụ thuộc vào một thị trường, ưu tiên quốc gia có môi trường chính trị ổn định và nguồn nhân lực chất lượng cao. Xu hướng này vừa là cơ hội, vừa tạo áp lực cạnh tranh lớn cho Việt Nam.

Hướng tới trung tâm thu hút đầu tư và đổi mới sáng tạo

PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Nghiên cứu thương mại và kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cho rằng các nhóm nhiệm vụ và giải pháp tại NQ10 kế thừa, nâng cấp và mở rộng từ Nghị quyết 50 năm 2019, nhưng chi tiết hóa hơn về hoàn thiện thể chế, chính sách đầu tư nước ngoài; thu hút đầu tư; bảo hộ và nâng cao trách nhiệm nhà đầu tư; quản lý, giám sát đầu tư; đổi mới xúc tiến đầu tư; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực hấp thụ đầu tư. Điều này phù hợp với bối cảnh kinh tế số, chuyển đổi xanh, cạnh tranh chiến lược và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Ông nhấn mạnh: 'NQ10 chuyển sang cách tiếp cận phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dựa trên động lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó là quan điểm mới, tiến bộ, tự chủ.'

Chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh (Trung tâm Nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế và xã hội) cho biết: Việt Nam đã chuyển đổi mong muốn thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Để đạt mục tiêu, bên cạnh các giải pháp trọng tâm của NQ10, cần có chính sách khuyến khích các công ty FDI đang hoạt động tại Việt Nam đổi mới công nghệ, đầu tư R&D, chuyển trụ sở chính sang Việt Nam và mở rộng hoạt động. Ông giải thích: 'Đối với doanh nghiệp đã ở đây, hiểu rõ môi trường Việt Nam nhưng trước đây chỉ lắp ráp đơn giản, trụ sở chính ở nước khác, cần khuyến khích họ đổi mới công nghệ, đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển trụ sở chính sang Việt Nam. Chính sách khuyến khích có thể đặt ra tiêu chí cụ thể như ưu đãi trong hoạt động đổi mới sáng tạo.' Ông nhấn mạnh: Khi chú ý đến họ, nhất là doanh nghiệp nhỏ, và làm thế nào để chủ doanh nghiệp FDI cảm thấy Việt Nam như quê hương, họ sẽ gắn bó lâu dài, mở rộng hoạt động, dịch chuyển sản xuất sang ngành có hàm lượng khoa học công nghệ. Họ sẽ ở lại lâu dài, và doanh nghiệp có thể được truyền thừa cho thế hệ tiếp theo, không phải ngưng hoạt động khi hết thời gian ưu đãi. Đây sẽ là phần lớn thu hút vốn FDI trong tương lai và là điểm tích cực để dòng vốn mới đánh giá môi trường Việt Nam tích cực vì đã giữ chân được nhà đầu tư ngoại.

Ông Minh cũng lưu ý: NQ10 nêu rõ dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Việt Nam cần thu hút thêm dòng vốn đầu tư gián tiếp. Dẫn chứng việc SpaceX (Mỹ) huy động 75 tỉ USD từ IPO ngày 11/6, ông nhấn mạnh: Vốn từ các quỹ đầu tư, quỹ tư nhân tập trung vào doanh nghiệp khoa học công nghệ, sáng tạo và đổi mới. Nếu Việt Nam xây dựng cơ chế cởi mở, phát triển thị trường vốn qua Trung tâm tài chính quốc tế, nâng hạng thị trường chứng khoán, thì không chỉ thu hút vốn đầu tư trực tiếp mà dòng vốn gián tiếp cũng sẽ tìm đến nhiều hơn.

Giữ chân dòng vốn ngoại

Chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh kết luận: Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế tương thích với chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh hoàn thiện hạ tầng cơ sở để giảm chi phí logistics, xây dựng môi trường kinh doanh tốt, thân thiện về văn hóa. Điều này không chỉ thu hút tập đoàn đến đầu tư trực tiếp mà còn thu hút nhân sự cấp cao và các quỹ đầu tư gián tiếp. Dòng vốn đầu tư gián tiếp rất lớn sẽ là động lực thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi quản trị, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu công nghệ mới nhanh hơn. 'Chúng ta tự tin làm được thì dòng vốn ngoại nào đến Việt Nam sẽ ở lại mà không phải ra đi nhanh chóng.'