Việt Nam đang đẩy nhanh triển khai siêu dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT) Bắc - Nam, dự án có mức đầu tư công lớn nhất lịch sử. Vào tháng 11/2024, chủ trương đầu tư dự án được thông qua, tuyến đường dài 1.545 km, kết nối Hà Nội đến TP.HCM. Khi hoàn thành, thời gian di chuyển giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất sẽ giảm từ hơn 30 giờ xuống còn 6 giờ nếu tốc độ thiết kế đạt 350 km/h.
Nhiều nước ngỏ ý tham gia
Nhiều quốc gia lớn quan tâm đến dự án này, trong đó có Nhật Bản. Tháng 12/2022, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền và Trưởng Đại diện Văn phòng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) bày tỏ mong muốn kết nối doanh nghiệp tham gia. Tháng 3/2024, đại diện Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết quan tâm và sẽ cung ứng vốn. Tháng 6/2024, Đại sứ Ito Naoki khẳng định sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ vốn. Đến ngày 29/6/2025, lãnh đạo Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) nhấn mạnh mong muốn doanh nghiệp Nhật tham gia xây dựng.
Trung Quốc cũng nhiều lần bày tỏ mong muốn tham gia. Ngày 28/8/2024, Tổng giám đốc Tập đoàn Xây dựng giao thông Trung Quốc (CCCC) cho biết đang theo sát các dự án giao thông lớn của Việt Nam. Ngày 13/10/2024, tại Tọa đàm doanh nghiệp Việt – Trung, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc khẳng định muốn góp mặt vào dự án hạ tầng, đặc biệt là dự án này. Ngày 6/11/2024, tại Côn Minh, Chủ tịch Tập đoàn Xây dựng đường sắt Trung Quốc (CRCC) bày tỏ mong muốn tham gia. Ngày 14/5/2025, Công ty Công trình xây dựng Trung Quốc (CCECC) nêu đề nghị tương tự. Đến 24/6/2025, tại Thiên Tân, ba tập đoàn gồm CREC, CRCC và CCCC đều khẳng định mong muốn góp phần phát triển hạ tầng Việt Nam.
Với Hàn Quốc, ngày 23/4/2026, Tập đoàn Hyundai bày tỏ mong muốn tham gia. Trước đó, ngày 5/12/2024, ông Kim Won Eung, Phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh hải ngoại Tổng công ty Đường sắt Hàn Quốc (KORAIL) cho biết sẵn sàng chuyển giao công nghệ. Pháp cũng ngỏ ý tham gia: ngày 7/5/2026, phái đoàn 15 doanh nghiệp và tập đoàn lớn làm việc với Bộ Xây dựng, tìm hiểu cơ hội hợp tác và bày tỏ mong muốn tham gia định hướng phát triển hạ tầng đường sắt Việt Nam.
Công nghệ xây dựng của các nước có gì?
Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia hàng đầu về công nghệ ĐSCT. Nhật Bản sở hữu công nghệ Shinkansen nổi tiếng thế giới. Tàu Shinkansen có mũi dài giảm sức cản không khí, giảm áp suất trong hầm, khắc chế rung lắc đuôi tàu, đảm bảo tầm nhìn cho lái tàu. Đường ray đặc biệt giúp giảm ma sát và tăng tốc. Hệ thống định vị vệ tinh và cảm biến theo dõi, điều chỉnh tốc độ, đảm bảo an toàn. Hệ thống kiểm soát tàu tự động duy trì khoảng cách an toàn, phanh tự động khi quá tốc độ. Tàu được giám sát bằng hệ thống vi tính kiểm soát giao thông.
Trung Quốc sở hữu phương pháp xây dựng tự động hiện đại hàng đầu thế giới. Công nghệ robot xây dựng đường sắt điện khí hóa trên cao quy mô lớn là cột mốc quan trọng, giúp máy móc đảm nhiệm phần lớn công việc như đào đất, ủi đất, đặt đường ray, xây cầu và hầm, lắp hệ thống báo hiệu. Trước đây, xây dựng đường sắt rất nguy hiểm, đòi hỏi nhiều lao động chân tay và chuyên gia.
Công nghệ Hàn Quốc phát triển dựa trên nền tảng TGV của Pháp, với hệ thống tín hiệu số tiên tiến giám sát, điều khiển tàu từ xa, độ chính xác và an toàn cao. Giao thức ATP và ETCS kiểm soát tốc độ, khoảng cách, giảm thiểu rủi ro. Công nghệ mô phỏng số thử nghiệm, dự đoán sự cố và tối ưu vận hành; hệ thống quản lý giao thông thời gian thực điều phối lịch trình linh hoạt. Tàu KTX tích hợp thông tin liên lạc số, kết nối nhanh, ổn định giữa trạm điều khiển và đoàn tàu.
Pháp có hệ thống TGV ra mắt năm 1981, nổi tiếng nhờ tốc độ cao, thoải mái và công nghệ tiên tiến. TGV có khả năng vận hành trên cả đường sắt cao tốc và thông thường, mở rộng phạm vi phục vụ. TGV sử dụng năng lượng điện, giảm khí thải, là biểu tượng giao thông xanh tại châu Âu. Chi phí khai thác dài hạn thấp, giá vé cạnh tranh, thúc đẩy di chuyển bền vững. Tuy nhiên, mạng lưới tập trung vào đô thị lớn, hạn chế tiếp cận nông thôn. Công nghệ Pháp trang bị hệ thống tín hiệu và điều khiển tự động, kết hợp GPS và cảm biến hiện đại, kỹ thuật xây dựng hạ tầng tiên tiến với vật liệu mới và giải pháp thiết kế hiện đại, nâng cao độ bền, ổn định và bền vững.



