Việt Nam cần chiến lược xuất khẩu giáo dục bài bản để tạo nguồn thu ngoại tệ mới
Sau nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực xuất khẩu giáo dục, tiến sĩ Phạm Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và chuyển giao tri thức (REK) thuộc Trường Đại học Thành Đô Hà Nội - khẳng định Việt Nam cần xây dựng một chiến lược giáo dục quốc tế toàn diện với lộ trình rõ ràng, đích đến cụ thể và xác định thành phần tham gia. Trong đó, việc xác định mục tiêu từ sớm được xem là ưu tiên hàng đầu.
Xác định đích đến chiến lược từ bài học quốc tế
Tiến sĩ Hiệp phân tích kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước: "Tại Mỹ, Singapore hay gần đây là Trung Quốc, mục tiêu tối thượng là thu hút nhân tài toàn cầu. Trong khi đó, Anh và Úc tập trung vào lợi ích kinh tế. Malaysia lại định vị thành điểm đến du học cho thế giới Hồi giáo". Ông nhấn mạnh Việt Nam hoàn toàn có thể đặt mục tiêu tìm kiếm nhân lực chất lượng cao hoặc thu lợi ích kinh tế thông qua xuất khẩu giáo dục.
Tuy nhiên, đây là mục tiêu dài hạn. Về ngắn hạn, chiến lược nên tập trung vào quốc tế hóa hệ thống giáo dục trong nước và toàn xã hội. "Tôi tin chúng ta còn rất nhiều dư địa phát triển trước khi cạnh tranh với các điểm đến du học khác", tiến sĩ Hiệp chia sẻ.
Quốc tế hóa toàn diện môi trường sống
Yếu tố quốc tế hóa được nhấn mạnh vì cần tạo môi trường phù hợp cho sinh viên và học giả quốc tế ở cả cấp quốc gia lẫn địa phương, không chỉ trong khuôn viên trường học. Điều này bao gồm hệ thống biển báo, hướng dẫn bằng tiếng Anh; xây dựng điểm sinh hoạt, vui chơi phù hợp văn hóa, tín ngưỡng người nước ngoài; và thiết kế toàn diện đô thị để đón tiếp cộng đồng quốc tế. "Đây là điểm khó nhất nhưng cần thiết", ông Hiệp nhấn mạnh.
Ngoài ra, cần phát triển giáo dục xuyên quốc gia vượt khỏi mô hình liên kết đào tạo truyền thống - vốn chưa hiệu quả trong thu hút sinh viên quốc tế. Mục tiêu nên hướng đến thu hút phân hiệu trường nước ngoài và hình thành khu giáo dục quốc tế như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia đang thực hiện.
"Để tối ưu chi phí, chúng ta có thể phát triển khu giáo dục quốc tế dựa trên khu vực hiện có như khu công nghệ cao Hòa Lạc, Đà Nẵng hay khu đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM", tiến sĩ Hiệp đề xuất.
Tính linh hoạt trong khung pháp lý
Giáo sư Scott Thompson-Whiteside, Tổng giám đốc Trường Đại học RMIT Việt Nam, đánh giá Việt Nam đã đạt tiến bộ trong xây dựng khung pháp lý minh bạch cho hợp tác giáo dục quốc tế, đặc biệt qua Luật Giáo dục Đại học sửa đổi. Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài và trở thành trung tâm sinh viên quốc tế là tín hiệu tích cực.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh: "Khi lĩnh vực phát triển, tính linh hoạt sẽ là yếu tố then chốt. Các quy định cần thích ứng với mô hình mới như học tập đa hình thức, kết hợp thực tiễn và học tập suốt đời, đồng thời đảm bảo chất lượng".
Nguồn thu ngoại tệ tiềm năng
Bà Bành Phạm Ngọc Vân, chuyên gia giáo dục quốc tế tại TP.HCM, nhận định xuất khẩu giáo dục không chỉ mang lợi ích kinh tế mà còn nâng cao vị thế quốc tế và thúc đẩy cải cách hệ thống giáo dục trong nước. Đây là bước chuyển then chốt để Việt Nam từ "quốc gia xuất khẩu sinh viên" thành "quốc gia xuất khẩu tri thức".
"Khi sinh viên quốc tế học tập tại Việt Nam, họ trở thành cầu nối văn hóa và kinh tế lâu dài, góp phần phát triển đa mặt đời sống kinh tế - xã hội", bà Vân phân tích.
Trên thế giới, giáo dục luôn là ngành dịch vụ xuất khẩu giá trị cao:
- Tại Úc, giáo dục quốc tế đóng góp 53,6 tỉ AUD (khoảng 1 triệu tỉ đồng) năm tài chính 2024-2025
- New Zealand xem giáo dục quốc tế là một trong 10 trụ cột xuất khẩu hằng năm
- Sinh viên quốc tế đóng góp 43,8 tỉ USD (khoảng 1,1 triệu tỉ đồng) cho kinh tế Mỹ năm học 2023-2024
- Anh coi giáo dục là mặt hàng xuất khẩu giá trị nhất, đóng góp 32 tỉ GBP/năm (khoảng 1,1 triệu tỉ đồng)
"Nếu tận dụng tốt hướng xuất khẩu giáo dục, Việt Nam sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ mới, giảm phụ thuộc hàng hóa truyền thống", bà Vân nhấn mạnh, vì sinh viên quốc tế không chỉ đóng học phí mà còn chi tiêu cho nhà ở, ăn uống, di chuyển và giải trí.
Quyền làm việc cho sinh viên quốc tế
Một yếu tố then chốt khác là quyền làm việc cho sinh viên quốc tế, từ cơ hội làm thêm trong thời gian học đến việc làm sau tốt nghiệp. Hiện nay, Việt Nam chưa có quy định cụ thể về số giờ sinh viên quốc tế được làm thêm, dù Bộ Giáo dục và Đào tạo từng đề xuất 20 giờ/tuần.
Ông Matt Jansen, Trưởng phòng cấp cao Phòng Tuyển sinh quốc tế Trường Đại học Anh quốc Việt Nam, chia sẻ: "Quan trọng nhất và còn thiếu trong chính sách hiện nay là tạo cơ hội việc làm cho sinh viên quốc tế trong thời gian học và sau tốt nghiệp". Ông đề xuất xem xét chính sách tạo điều kiện cho sinh viên quốc tế ở lại làm việc, đặc biệt sau tốt nghiệp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
PGS-TS Nguyễn Phú Khánh, Phó tổng giám đốc Đại học Phenikaa, nhận định việc làm thêm không chỉ mang ý nghĩa tài chính mà còn giúp sinh viên quốc tế hòa nhập cuộc sống tại Việt Nam.
Tăng cường tuyển sinh và hiện diện quốc tế
Ông Khánh nhấn mạnh các bên liên quan nên chuyển từ trạng thái chờ sang chủ động vươn ra quốc tế, tổ chức sự kiện gặp gỡ sinh viên tiềm năng hoặc tham gia hội nghị, triển lãm giáo dục quốc tế. "Việc tăng sự hiện diện của đất nước, nhà trường ở quốc gia của sinh viên quốc tế giúp họ và gia đình yên tâm hơn".
Ông Nguyễn Thanh Vân, Giám đốc thị trường Việt Nam của AECC Global, đề xuất Việt Nam có thể cân nhắc chuẩn hóa hoạt động của các công ty du học trong tuyển sinh quốc tế, tận dụng thấu hiểu thị trường và hiện diện thường xuyên của họ.
Nghiên cứu do Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội đồng Anh công bố năm 2024 khuyến nghị thành lập cơ quan quốc gia chuyên trách hỗ trợ các trường thu hút sinh viên quốc tế, phát triển cổng thông tin "Study in Vietnam" tương tự "Study UK" hay "Study in Malaysia".
Ông Matt Jansen đánh giá Việt Nam có chính sách visa "khá cởi mở" với sinh viên quốc tế, cùng môi trường sống an toàn, thân thiện. "Đây là thời điểm thuận lợi khi các điểm đến du học truyền thống như Úc, Anh, Mỹ và Canada đang kém hấp dẫn hơn do chi phí cao và chính sách visa chặt chẽ", ông chia sẻ.



