Ngành học VN: STEM tăng, nhân văn vẫn hút, xu hướng liên ngành lên ngôi
Ngành học VN: STEM tăng, nhân văn vẫn hút, liên ngành lên ngôi

Trung Quốc mới đây bãi bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 chương trình cử nhân, tập trung ở ngoại ngữ, nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời mở mới 10.200 chương trình gắn với chiến lược khoa học công nghệ. Xu hướng này phản ánh sự tái cơ cấu mạnh mẽ giáo dục đại học toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam thúc đẩy đào tạo STEM

Tại Việt Nam, Nghị quyết số 57 và Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị đặt định hướng chiến lược về đột phá phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo. Hệ thống giáo dục đại học được xem là nòng cốt phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) được chú trọng làm nền tảng phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn phát biểu tại Hội thảo triển khai các chương trình và chính sách đào tạo nhân lực STEM: “Cách tiếp cận của Việt Nam cũng như nhiều quốc gia là tập trung đào tạo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt. Điều này giúp người học nhanh chóng thích ứng, làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược trong tương lai.”

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026 cấp học bổng cho người học 111 ngành thuộc nhóm khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có điểm trúng tuyển cao. Năm 2026, dự kiến khoảng 30.000 người được cấp học bổng mức từ 37 triệu đồng/năm, tổng kinh phí khoảng 1.300 tỉ đồng/năm. Mục tiêu đến năm 2030, quy mô đào tạo STEM đạt trên 1 triệu người học mỗi năm, nâng tỷ lệ người học lên 35%.

Nhân văn vẫn hút sinh viên nhờ nhu cầu thị trường

Dù số lượng học STEM tăng, nhưng dẫn đầu về tỷ lệ thu hút tân sinh viên vẫn là nhóm kinh doanh và quản lý (21%, giảm 4% so với năm trước), kế đến là công nghệ kỹ thuật thuộc STEM (10,6%), và thứ ba là nhóm nhân văn (9,6%). Đây là điểm khác biệt so với nhiều nước, nơi các ngành nhân văn ngày càng yếu thế.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế Trường ĐH Lạc Hồng, Giám đốc Công ty TNHH giáo dục quốc tế Lucky Star, cho rằng dòng chảy đầu tư đến một số địa phương thúc đẩy nhóm ngành này. Chẳng hạn, TP.Đồng Nai, TP.HCM và nhiều địa phương tăng mạnh thu hút vốn đầu tư từ Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, kéo theo nhu cầu lớn về nhân lực tiếng Trung. Tuy nhiên, bà Oanh cảnh báo: “Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy lợi thế cạnh tranh trong tương lai sẽ không thuộc về người chỉ biết ngoại ngữ đơn thuần. Doanh nghiệp ngày càng cần nhân sự vừa có năng lực ngoại ngữ, vừa có chuyên môn về xuất nhập khẩu, logistics, quản trị sản xuất, thương mại điện tử hoặc marketing số. Vì vậy, các chương trình đào tạo ngoại ngữ ở Việt Nam cần chuyển dần sang mô hình liên ngành để tránh nguy cơ dư thừa nguồn cung nhân lực.”

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Ba xu hướng tái cơ cấu ngành học tại Việt Nam

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, nhận định có ba xu hướng sẽ diễn ra trong 5-10 năm tới. Thứ nhất, một số ngành sẽ biến mất hoặc thu hẹp quy mô, tạm dừng tuyển sinh do cung vượt cầu hoặc bị AI thay thế ở mức độ cao, như ngoại ngữ truyền thống, quản trị kinh doanh đại trà, một số lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hoặc nghệ thuật nếu không đổi mới. “Điều này không có nghĩa xã hội không còn cần ngoại ngữ, quản trị hay khoa học xã hội, nhưng cần dưới hình thức mới, gắn với dữ liệu, công nghệ, tư duy liên ngành và khả năng giải quyết vấn đề phức tạp,” ông Tuấn nói.

Thứ hai, nhiều ngành học mới sẽ ra đời như AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, công nghệ y tế, năng lượng xanh, logistics thông minh, kinh tế số, công nghiệp sáng tạo, truyền thông số và các chương trình liên ngành khác.

Thứ ba, ranh giới giữa các ngành học sẽ mờ dần. “Doanh nghiệp không còn tuyển dụng một cử nhân chỉ vì tên ngành trên tấm bằng, mà họ quan tâm người học có năng lực gì, khả năng thích ứng ra sao và có giải quyết được vấn đề thực tiễn hay không. Giáo dục đại học sẽ chuyển từ tư duy đào tạo theo ngành sang theo năng lực, từ theo ngành, chuyên ngành sang liên ngành,” ông Tuấn đánh giá.

PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, cho rằng Chính phủ đang đẩy mạnh các ngành như bán dẫn, AI, công nghệ số, năng lượng tái tạo, đường sắt cao tốc, hàng không, nông nghiệp công nghệ cao. Các ngành “hot” hiện nay gồm công nghệ cơ khí, kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, AI/dữ liệu lớn, digital marketing, logistics, thương mại quốc tế, bán dẫn/vi mạch, chăm sóc sức khỏe, du lịch và dịch vụ chất lượng cao. Tuy nhiên, một số ngành quản trị, marketing, du lịch, ngoại ngữ, truyền thông có nguy cơ dư cung nếu đào tạo hàn lâm, thiếu thực tiễn và kỹ năng số/AI.

Cần cân bằng giữa cắt giảm và duy trì các ngành xã hội

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cảnh báo: “Nếu cắt giảm quá mức sẽ tạo ra những khoảng trống nguy hiểm. Một quốc gia không thể chỉ đào tạo kỹ sư hoặc lập trình viên. Nếu giảm quá nhiều các ngành xã hội, nhân văn, nghệ thuật hay ngoại ngữ, sẽ thiếu đội ngũ làm văn hóa, giáo dục, ngoại giao, truyền thông và hoạch định chính sách.”

Ngày 26.6, Phó thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ GD-ĐT rà soát tổng thể chương trình, nội dung dạy học, kiểm tra, đánh giá theo tinh thần cắt giảm tối đa những yêu cầu, thủ tục, hồ sơ không cần thiết; thậm chí nghiên cứu cắt giảm những môn học không còn phù hợp trong bối cảnh AI hỗ trợ tích cực cho việc dạy và học.

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Trung, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ miền Đông, cho biết nhà trường đang thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu mũi nhọn như UAV thông minh, robot và tự động hóa, điện công nghiệp cho nhà máy thông minh nhằm cung ứng nhân sự chất lượng cao, sẵn sàng làm chủ công nghệ khi gia nhập môi trường sản xuất hiện đại.

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn nhấn mạnh: “Mục tiêu của giáo dục đại học trong giai đoạn tới không phải là mở hay đóng thật nhiều ngành, mà là xây dựng một cơ cấu ngành đào tạo tinh gọn, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của xã hội.”