Bình đẳng từ dữ liệu đề thi: Góc nhìn sau tranh cãi 'Steve Jobs Việt Nam'
Bình đẳng từ dữ liệu đề thi sau tranh cãi Steve Jobs

Ngày 14/06/2026, sau những tranh cãi về câu hỏi "Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam" trong đề thi ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026, luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM) đã có bài phân tích sâu về vấn đề bình đẳng trong giáo dục. Theo ông, điều đáng bàn không phải là học sinh vùng sâu vùng xa có biết Steve Jobs hay không, mà là một đề thi chung có thực sự tạo ra cơ hội ngang nhau cho những học sinh có xuất phát điểm rất khác nhau hay không.

Bình đẳng thực chất trong giáo dục

Quyền bình đẳng trong giáo dục không thể chỉ được hiểu là mọi thí sinh nhận cùng một đề thi. Cái cần hướng tới là bình đẳng thực chất, tức học sinh ở những điều kiện sống khác nhau vẫn có cơ hội hợp lý để chứng minh năng lực.

Từ góc độ chính sách công, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay đang gánh hai chức năng cùng lúc: đánh giá kết quả học tập, xét công nhận tốt nghiệp, đánh giá chất lượng dạy học, đồng thời cung cấp dữ liệu để các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp sử dụng trong tuyển sinh.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Mâu thuẫn giữa hai mục tiêu

Chính việc gộp nhiều mục tiêu vào một kỳ thi làm phát sinh căng thẳng. Xét tốt nghiệp là kiểm tra cái sàn, tức chuẩn tối thiểu mà mọi học sinh phổ thông cần đạt. Tuyển sinh đại học lại là cơ chế xếp hạng, cần phân hóa thí sinh, nhất là ở nhóm điểm cao. Khi một đề thi vừa là sàn, vừa là phễu, nó buộc phải vừa đủ phổ thông để không loại oan người học bình thường, vừa đủ sắc để chọn người nổi trội. Mâu thuẫn bình đẳng bắt đầu từ đó.

Phân tích đề thi ngữ văn năm 2026

Đề ngữ văn năm 2026 là một ví dụ rõ. Bộ GD-ĐT giải thích câu hỏi về "Steve Jobs Việt Nam" đã được cân nhắc tính vùng miền, là câu hỏi phân hóa và không yêu cầu thí sinh hiểu biết sâu về nhân vật. Lập luận này có phần hợp lý. Đề đã đặt Steve Jobs cùng các nhân vật công nghệ khác trong gợi dẫn, nên thí sinh có thể hiểu đây là hình ảnh ẩn dụ cho người sáng tạo, người đổi mới, người có khả năng tạo ra giá trị lớn cho xã hội. Câu hỏi cũng chỉ chiếm một phần điểm trong bài thi.

Nhưng làm được bài và có cơ hội làm bài thật tốt là hai chuyện khác nhau. Một học sinh ở đô thị lớn, thường xuyên tiếp xúc với internet, truyền thông công nghệ, sách kỹ năng và những thảo luận về khởi nghiệp sẽ đọc cụm "Steve Jobs Việt Nam" với rất nhiều tầng nghĩa. Một học sinh ít điều kiện tiếp cận những không gian ấy vẫn có thể hiểu câu hỏi theo nghĩa chung nhưng phải trả thêm một chi phí nhận thức để giải mã biểu tượng. Trong phòng thi, chi phí ấy không vô hình. Nó có thể trở thành khoảng cách điểm số.

Cơ chế bất bình đẳng tiềm ẩn

Đây mới là cơ chế bất bình đẳng đáng chú ý. Chỉ cần chọn một biểu tượng có tính đô thị, toàn cầu hóa và đặt nó vào tầng câu hỏi dùng để phân hóa, lợi thế đã có thể dịch chuyển về phía nhóm học sinh sở hữu vốn văn hóa phù hợp. Sự thiên lệch không nằm ở cửa vào, vì nhiều em vẫn viết được. Nó nằm ở cửa điểm cao, nơi đề thưởng cho khả năng nói trôi chảy bằng ngôn ngữ của thế giới công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Một ngữ liệu ngoài sách giáo khoa vẫn có thể công bằng nếu nó đủ tự thân. Nghĩa là học sinh chưa từng biết nhân vật, sự kiện hoặc biểu tượng được nêu vẫn có đủ dữ kiện trong đề để hiểu vấn đề và lập luận. Ngược lại, một đề mà nếu muốn viết sâu, viết hay, viết khác biệt, học sinh phải có sẵn vốn đọc, vốn internet, vốn trải nghiệm ngoài đề thì khi đó đề đã không còn chỉ kiểm tra năng lực được nhà trường rèn luyện. Nó bắt đầu thưởng điểm cho điều kiện xã hội đi kèm với mỗi học sinh.

Giải pháp cho sự công bằng

Do đó, vấn đề đặt ra là trước khi dùng một ngữ liệu ngoài sách giáo khoa trong đề thi quốc gia, cơ quan ra đề đã thẩm định độ thiên lệch tiếp cận của nó ra sao. Đáp án có thật sự mở không. Rubric (thang đánh giá tiêu chí) chấm có bảo đảm học sinh không bị bất lợi chỉ vì không khai thác sâu tiểu sử nhân vật hay không.

Vì vậy, cần bổ sung một bước thẩm định công bằng tiếp cận trong quy trình ra đề. Hội đồng phản biện đề nên có giáo viên đến từ trường nông thôn, trường vùng khó khăn... Họ cần được yêu cầu đánh giá chi phí giải mã của ngữ liệu đối với học sinh ngoài trung tâm đô thị. Với các câu hỏi phân hóa, rubric phải ghi rõ rằng thí sinh có thể đồng tình, phát triển hoặc phản biện lại gợi dẫn nếu lập luận chặt chẽ. Sau kỳ thi, Bộ nên công bố phổ điểm theo tỉnh, vùng, loại hình trường và có phân tích riêng với các câu phân hóa.

Một nền giáo dục công bằng không phải là làm cho mọi đề thi đều dễ và quen thuộc, cũng không phải là xóa bỏ phân hóa. Phân hóa phải dựa trên năng lực tư duy, không phải theo vốn sống mà xã hội đã phân phối không đều trước khi học sinh bước vào phòng thi.