Nghề kim hoàn Việt Nam có từ bao giờ? Lịch sử hình thành và phát triển
Nghề kim hoàn Việt Nam có từ bao giờ?

Nghề kim hoàn Việt Nam đã có từ rất lâu đời, bắt nguồn từ nhu cầu làm đẹp của con người và giá trị quý báu của vàng bạc. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn Dũng, cán bộ Sở Văn hóa và Thông tin thành phố Huế, các di chỉ khảo cổ ở Việt Nam đã phát hiện nhiều trang sức bằng vàng bạc, như vòng tay, nhẫn, trâm, lược, hoa tai và hạt chuỗi, được gia công tinh tế từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3. Điều này cho thấy nghề kim hoàn đã xuất hiện từ thời cổ đại.

Làng nghề kim hoàn truyền thống

Đặc biệt, vùng Đại La - Thăng Long xưa có làng Định Công, nằm bên bờ sông Tô Lịch (nay thuộc Hà Nội), nổi tiếng với nghề kim hoàn từ thế kỷ thứ 6. Tương truyền, tổ nghề chạm vàng bạc có liên quan đến ba anh em họ Trần, sinh khoảng năm 571 đến 603, tạo nên cái nôi ban đầu của nghề chạm kim hoàn. Tuy nhiên, dấu ấn của nghề này qua các triều đại phong kiến đã dần phai nhạt, vì chỉ có tầng lớp quý tộc mới sở hữu vàng bạc và nghề chế tác trang sức nằm trong tay họ, không được truyền ra bên ngoài.

Thời kỳ chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Khi các chúa Nguyễn trấn giữ xứ Đàng Trong, họ nắm giữ nhiều mỏ vàng, như mỏ vàng Bồng Miêu ở tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, kỹ thuật chế tác kim hoàn hầu hết nằm trong tay các nghệ nhân Trung Quốc. Các đồ vàng trong phủ chúa đều phải thuê thợ người Trung Quốc làm, và họ giấu nghề rất kỹ, độc quyền về kiến thức liên quan. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ra lệnh cho các quan trong triều tìm cách hợp tác sản xuất với người Hoa, nhưng đều thất bại.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nhị vị tổ sư nghề kim hoàn

Cho đến cuối thời chúa Nguyễn, khi Nguyễn Huệ lên ngôi ở Phú Xuân (1788) lấy niên hiệu Quang Trung, mới chính thức có sử liệu về nghề kim hoàn của người Việt. Theo tư liệu lịch sử, ông Cao Đình Độ sinh năm Giáp Thìn (1744) tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Xuất thân từ gia đình nông dân, nhưng với niềm đam mê học hỏi nghề kim hoàn, ông lên đường ra Thăng Long tầm sư học đạo. Thời kỳ đó, chỉ có người Hoa nắm giữ kỹ thuật chế tác và độc quyền sản xuất, buôn bán vàng bạc. Để học được nghề, ông phải dành nhiều thời gian học tiếng Hoa, xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long để tạo niềm tin, từ đó xin học nghề. Tay nghề ông ngày càng thành thạo, đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo, đủ sức cạnh tranh với thợ kim hoàn người Hoa.

Định cư và truyền nghề ở Thuận Hóa

Năm 1783, nhận thấy Thuận Hóa, kinh đô xứ Đàng Trong, phát triển phồn thịnh nhưng chưa có người hành nghề kim hoàn, ông Cao Đình Độ cùng vợ con vào lập nghiệp. Đầu tiên, gia đình ông dừng chân tại làng Kế Môn (nay thuộc phường Phong Phú, thành phố Huế). Tại đây, ông truyền nghề cho con trai Cao Đình Hương và một số học trò thuộc hai họ Huỳnh Công và Trần Mạnh. Về sau, hai họ Huỳnh và Trần tiếp tục truyền nghề cho con cháu, biến làng Kế Môn thành làng thợ kim hoàn lớn nhất xứ Đàng Trong.

Phục vụ trong triều đình

Năm 1790, vua Quang Trung triệu cha con ông Cao Đình Độ cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập đội Cơ vệ Ngân tượng, chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung điện. Với công đức và đóng góp lớn lao, ông Độ được phong chức Lãnh binh, con trai ông Hương được phong chức Phó lãnh binh. Thời gian này, gia đình ông Độ sống tại làng Cao Hậu (thường gọi là Côi Hậu, huyện Hương Trà, nay thuộc phường Hương An, thành phố Huế).

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Khi Nguyễn Ánh chiếm lại đất Thuận Hóa - Phú Xuân, mọi thành tựu văn hóa dưới triều Quang Trung đều bị phá hủy, nhưng ngành ngân tượng được bảo tồn. Hai cha con ông Độ cùng nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.

Di sản của nhị vị tổ sư

Theo truyền thống ngày giỗ hằng năm, ông Cao Đình Độ làm quan ở Ngân tượng triều Nguyễn đến ngày 7 tháng 2 năm Canh Ngọ thì qua đời (trùng ngày 22 tháng 3 năm 1810), thọ 66 tuổi. Sau khi ông qua đời, vua Gia Long và triều đình thương tiếc, truy phong tước hiệu "Đệ nhất tổ sư", ban đất xây lăng như các quan đại thần và cử hành tang lễ chu tất, an táng tại ấp Trường Cởi (nay thuộc phường Thuận Hóa, thành phố Huế).

Sau khi ông Cao Đình Độ qua đời, con trai Cao Đình Hương được kế tục sự nghiệp với chức quan Lãnh binh. Nhưng cùng trong năm đó (1810), từ hoài bão và tâm huyết của cha, nhận thấy chỉ phục vụ trong cung vua sẽ làm nghề kim hoàn mai một, ông Hương quyết định từ quan về nhà để tìm người nối nghiệp. Quan Thượng thư bộ Lại Trần Minh mời ông về phủ dạy nghề cho ba người con là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và ba người cháu Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật.

Ông Hương qua đời ở tuổi 48 vào ngày 27 tháng 2 năm Tân Tỵ (tức ngày 5 tháng 4 năm 1821), được vua Minh Mạng sắc phong tước hiệu "Đệ nhị tổ sư" và cho an táng cạnh mộ phần của cha mình tại ấp Trường Cởi. Trước khi mất, ông Hương có tâm nguyện mong học trò đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian. Chính vì vậy, nghề kim hoàn chính thức được truyền bá rộng rãi cho đến ngày nay. (còn tiếp)