Kim hoàn trước đây là nghề đứng đầu trong bách nghệ và không dành cho tất cả mọi người. Vàng bạc là thứ của cải và trang sức có giá trị bậc nhất, xưa kia chỉ giới thượng lưu, vương tôn, gia đình đại phú mới sở hữu. Do vậy, nghề thợ vàng cũng là nghề danh giá.
Duyên phận huynh đệ với tuyệt kỹ 'đậu'
Nghệ nhân Trần Duy Mong, chủ doanh nghiệp kim hoàn Thuận Thành - Duy Mong, Phó tộc trưởng Tộc kim hoàn Huế, cho biết ngày xưa kỹ thuật 'đậu' thường được dùng trong các sản phẩm trang trí trên mũ, mão, y, quan, hài hay trong các tác phẩm cành vàng lá ngọc... của giới quý tộc, đa số là sản phẩm cung đình. Với nghề kim hoàn, 'trơn' là kỹ thuật phổ biến nhất để tạo hình sản phẩm, còn 'đậu' và 'chạm' là hai kỹ thuật chuyên sâu để làm thẩm mỹ, hoa văn. Trong đó, 'chạm' tạo hình hoa văn lên sản phẩm đã làm trơn để tăng giá trị thẩm mỹ, còn 'đậu' là kỹ thuật kéo vàng, bạc ra thành sợi nhỏ như sợi chỉ, sợi tơ để tạo hình trang trí, làm nên những tác phẩm tinh xảo.
Nói thêm, nghề chạm vàng bạc ở Huế hiện chỉ còn 2 người 'bao sân' thị trường Huế và nhiều nơi, trong đó chạm lọng là kỹ thuật cực kỳ cao, không phải ai cũng làm được. Nghề gia truyền nên họ không truyền ra ngoài và chính họ cũng muốn ẩn danh.
Với kỹ thuật làm 'đậu', ở Huế ngoài nghệ nhân Trần Hữu Nhơn (ở đường Đào Duy Anh, đã mất) từng sở đắc thì hiện cũng chỉ còn nghệ nhân Trần Duy Mong nắm giữ. Ông Trần Hữu Nhơn và ông Trần Duy Mong là huynh đệ đồng môn, đều theo học cố nghệ nhân Trần Duy Tùng - một bậc thầy trong nghề kim hoàn của họ Trần Duy ở làng Kế Môn.
Nghệ nhân Trần Hữu Nhơn không phải là hậu duệ chính thống của nghề kim hoàn. Theo lời kể của gia đình, năm 4 tuổi, chẳng may cha mất sớm, ông Nhơn được mẹ gửi sang ở với người cậu ruột là Hoàng Tấn Ích ở làng Minh Hương (thuộc xã Hương Vinh, H. Hương Trà, nay là P. Hóa Châu, TP. Huế). Người cậu này là hậu duệ của gia tộc họ Huỳnh (tức Hoàng) có nghề kim hoàn nhưng đã sa sút, chỉ còn giữ lại một xưởng bạc làm ăn cầm chừng. Cũng nhờ mối duyên này nên một người cháu 'ngoại tộc' mới được học nghề kim hoàn.
Xưởng bạc của cậu ở làng, lui tới cũng chỉ có vài món nghề gia công đơn điệu. Để có thể nâng cao tay nghề, ông Trần Hữu Nhơn xin cậu cho đến đầu quân ở tiệm vàng Vĩnh Mậu do ông Trần Duy Tùng làm chủ. Ở Huế thời đó có 3 hiệu vàng nổi tiếng là An Phú, Vĩnh Hòa và Vĩnh Mậu, tập trung hàng chục thợ giỏi. Với tư chất thông minh lại cần cù chịu khó, ở tiệm vàng Vĩnh Mậu, ông Nhơn được truyền dạy những kỹ thuật khó của nghề thợ vàng, trong đó có 'đậu' - một kỹ thuật đỉnh cao mà chỉ có những người thợ giỏi mới làm được.
Khi tay nghề đã vững, ông xin ra riêng và lập nên hiệu vàng Vĩnh Long. Bằng tay nghề giỏi, làm ăn uy tín, ông đã gây dựng Vĩnh Long thành thương hiệu vàng bạc lớn ở Huế.
Còn ông Trần Duy Mong là cháu của cụ Trần Duy Tùng. Năm 1967, ông đến học nghề và được ông Tùng xem như con trong nhà. 'Ngày xưa học nghề là đến ăn ở luôn với thầy chứ không về nhà. Thời tôi đến học thì người sư huynh là Trần Hữu Nhơn lớp trên đã ra nghề và mở tiệm riêng', nghệ nhân Trần Duy Mong chia sẻ.
Cũng như các lớp đàn anh, ông Trần Duy Mong cũng được thầy truyền dạy kỹ thuật 'đậu'. 'Thầy của chúng tôi là người vô cùng nghiêm khắc. Bên cạnh học nghề thì việc rèn giũa đạo đức cũng được rất chú trọng. Nghề vàng có một nguyên tắc mà bất cứ người nào đến học đều phải khắc cốt ghi tâm, đó là sự trung thực và lấy chữ tín làm bí quyết. Chính bí quyết này khẳng định sự thành công của mỗi người thợ trong suốt cả cuộc đời', nghệ nhân Trần Duy Mong chia sẻ.
Những tác phẩm để đời
Năm 2007, khi TP. Huế chọn 3 nghề kim hoàn, đúc đồng và điêu khắc để tôn vinh trong Festival nghề truyền thống Huế, ông Trần Hữu Nhơn bắt tay thực hiện tác phẩm tượng Phật bà Quán Thế Âm bằng kỹ thuật 'đậu' để tham gia. Ròng rã 2 tháng trời, chỉ bằng 2 tay mà không có máy móc nào giúp sức, ông Nhơn mới hoàn thành bức tượng. Với ông, đó là tác phẩm để đời, vì sau này khó có ai làm được.
Khi bắt tay làm bức tượng, ông từng tâm sự mình làm tác phẩm này để nhắc nhở mọi người rằng trong nghề kim hoàn có ngón 'đậu' rất độc đáo mà giờ chẳng còn ai theo đuổi. Bức tượng được làm từ 6 lạng bạc 'đậu' trên mặt kính nên có thể nhìn thấy từ cả 2 mặt. Sau khi trưng bày tại festival, bức tượng được ông Nhơn đặt ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà. Nhiều người ngỏ ý muốn 'thỉnh' bức tượng nhưng ông cương quyết không bán.
Nếu sư huynh Trần Hữu Nhơn để lại tác phẩm 'đậu' bức tượng Phật bà Quán Thế Âm thì ông Trần Duy Mong cũng trình làng một số tác phẩm 'đậu' quý hiếm, trong đó có tác phẩm Hài cung đình mà ông rất tâm đắc. Tác phẩm này đoạt giải ba Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam lần thứ 6 năm 2009 của Bộ NN-PTNT (nay là Bộ NN-MT).
Theo nghệ nhân Trần Duy Mong, ngày nay hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất bằng công nghệ hiện đại nên không còn nhiều người đi sâu theo nghề như trước. Thợ giỏi vì thế cũng hiếm. Chính đầu ra của sản phẩm và yêu cầu của khách hàng đã khiến một số kỹ thuật như 'đậu' ngày càng ít xuất hiện. Với ông, thực hiện lại những tác phẩm bằng kỹ thuật 'đậu' chủ yếu là để trưng bày, để người đời còn biết về một kỹ thuật rất khó của nghề kim hoàn. (còn tiếp)



