Bài toán tỷ đô sau mỗi lít nhiên liệu
Từ ngày 1/6, xăng sinh học E10 chính thức được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Đây không chỉ là một bước tiến trong lộ trình giảm phát thải và thực hiện cam kết Net Zero, E10 còn mở ra một thị trường tiêu thụ quy mô lớn cho nông sản trong nước.
Theo Bộ Công Thương, khi E10 được triển khai trên toàn quốc, nhu cầu ethanol của Việt Nam sẽ đạt khoảng 92.000-100.000 m³ mỗi tháng. Trong khi đó, năng lực sản xuất hiện nay mới đạt khoảng 25.000 m³/tháng. Khoảng cách rất lớn này cho thấy dư địa phát triển của ngành công nghiệp ethanol còn rất rộng.
Báo cáo nhanh của Công ty Chứng khoán VietinBank (VBSE) công bố cuối tháng 5/2026 cũng cho thấy, việc triển khai E10 trên toàn quốc có thể tạo ra nhu cầu khoảng 1,5-2 triệu m³ ethanol được sản xuất từ nguyên liệu nông nghiệp mỗi năm.
Theo tính toán của VBSE, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm; ngô khoảng 5-7 triệu tấn mỗi năm; còn sắn khoảng 4-5,5 triệu tấn mỗi năm.
Đây là những con số rất lớn nếu đặt trong tương quan với quy mô sản xuất hiện nay của Việt Nam. Riêng nhu cầu sắn đã tương đương khoảng một 1/2 tổng sản lượng cả nước, trong khi nhu cầu ngô và mía thậm chí tiệm cận hoặc vượt sản lượng hiện có. Nếu quy đổi theo mặt bằng giá nông sản trung bình trên thị trường hiên nay, quy mô thị trường mà E10 có thể tạo ra là không nhỏ. Với nhu cầu trên cùng giá mía nguyên liệu dao động khoảng 1,1-1,3 triệu đồng/tấn, giá trị thị trường ước đạt khoảng 15.000-26.000 tỷ đồng/năm.
Đối với ngô với mức giá khoảng 6-7 triệu đồng/tấn có thể tạo ra thị trường trị giá 30.000-49.000 tỷ đồng/năm. Trong khi giá sắn tươi phổ biến khoảng 2-2,5 triệu đồng/tấn, thị trường nguyên liệu sắn phục vụ sản xuất ethanol được ước tính có giá trị khoảng 8.000-14.000 tỷ đồng/năm.
Hiện cả nước có bốn nhà máy ethanol đang hoạt động tại Đồng Nai, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Đắk Tô; hai nhà máy khác đang trong quá trình tái cơ cấu và hoàn thiện kỹ thuật. Cuối tháng 2/2026, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 07, giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu cơ chế phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, ưu tiên cây phi lương thực, phụ phẩm nông nghiệp và các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Nếu trước đây câu chuyện đầu ra nông sản thường gắn với nỗi lo "được mùa mất giá", thì sự hình thành của thị trường ethanol có thể tạo ra một chuỗi giá trị mới và ổn định hơn. Điều đó cho thấy E10 không chỉ là câu chuyện thay đổi nhiên liệu, mà có thể tạo ra một thị trường đầu ra đủ sức tác động đến cơ cấu sản xuất của nhiều ngành hàng nông nghiệp.
Cây sắn sẽ không còn chờ phía Trung Quốc
94% lượng sắn xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc.
Trong số các nguyên liệu sản xuất ethanol, sắn được xem là ứng viên nổi bật nhất. Hiện phần lớn các nhà máy ethanol tại Việt Nam sử dụng nguyên liệu chính là sắn lát khô. Đây là loại cây trồng phù hợp với nhiều vùng đất dốc, đất khô hạn và từ lâu đã trở thành sinh kế quan trọng của nhiều địa phương.
Năm 2024, diện tích trồng sắn cả nước đạt khoảng 511.000 ha, sản lượng hơn 10,4 triệu tấn. Năng suất bình quân đạt 20,4 tấn/ha; riêng Tây Ninh đạt trên 33 tấn/ha, thuộc nhóm cao nhất cả nước.
Năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn mang về 1,26 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới. Tuy nhiên, đằng sau con số tỷ USD này là thực tế ngành sắn vẫn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu. Lượng xuất khẩu tăng hơn 52% nhưng giá trị chỉ tăng gần 10%, cho thấy giá trị gia tăng còn thấp.
Đáng chú ý, khoảng 94% lượng sắn xuất khẩu hiện phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Điều này khiến ngành hàng dễ chịu tác động khi thị trường biến động về giá hoặc nhu cầu nhập khẩu.
Trong bối cảnh đó, ethanol được xem là cơ hội để cây sắn tìm thêm một "khách hàng" lớn ngay trong nước, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng với giá trị gia tăng cao hơn và đầu ra ổn định hơn.
Theo các nghiên cứu trước đây, để sản xuất 100 triệu lít ethanol cần khoảng 250.000 tấn sắn lát khô, tương đương 600.000 tấn sắn củ tươi. Với năng suất trung bình khoảng 20 tấn/ha, vùng nguyên liệu cần thiết vào khoảng 30.000 ha.
Định hướng này cũng phù hợp với Đề án "Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Theo đó, đến năm 2030, sản lượng sắn tươi cả nước dự kiến đạt khoảng 11,5-12,5 triệu tấn; khoảng 85% sản lượng được đưa vào chế biến sâu các sản phẩm như tinh bột, ethanol, mì chính... Điều này cho thấy ethanol không phải là một hướng đi mới xuất hiện cùng E10, mà đã được tính đến như một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển ngành sắn dài hạn của Việt Nam.
Bài học từ Mỹ, Brazil về ngành công nghiệp ethanol
Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất "hồi sinh" để phục vụ nhu cầu xăng E10 trong nước.
Trên thế giới, ethanol từ lâu đã được xem là một trong những lời giải hiệu quả để gắn kết nông nghiệp với công nghiệp năng lượng.
Mỹ hiện là quốc gia sản xuất ethanol lớn nhất thế giới. Sản lượng ethanol của nước này liên tục tăng từ năm 2000 và đạt khoảng 60,57 tỷ lít vào năm 2024, trong đó khoảng 7,19 tỷ lít được xuất khẩu, chủ yếu sang Canada. Phần lớn ô tô tại Mỹ sử dụng xăng E10, bên cạnh đó còn có E85 dành cho các dòng xe chuyên dụng. Nguyên liệu chính của Mỹ là ngô.
Brazil đứng thứ hai thế giới về sản xuất ethanol. Trong niên vụ 2023/24, khu vực Trung Nam Brazil chế biến 654 triệu tấn mía, tăng 19% so với vụ trước. Sản lượng đường đạt 42,42 triệu tấn, tăng 25%; sản lượng ethanol đạt 33,59 tỷ lít, tăng 16%.
Đáng chú ý, ethanol từ ngô tại Brazil tăng mạnh 41%, lên 6,26 tỷ lít và chiếm gần 20% tổng sản lượng ethanol. Điều này cho thấy ngô đang ngày càng trở thành nguyên liệu chiến lược của ngành nhiên liệu sinh học toàn cầu.
Hiện Mỹ và Brazil chiếm hơn 80% sản lượng ethanol toàn cầu. Thành công của hai quốc gia này không chỉ đến từ lợi thế nguyên liệu mà còn từ quá trình công nghiệp hóa đồng bộ, bao gồm quy hoạch vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy, chính sách hỗ trợ nhiên liệu sinh học và hệ thống phân phối hoàn chỉnh.
Các chuyên gia đánh giá, Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng lợi thế là quốc gia nông nghiệp để phát triển ngành ethanol quy mô lớn.
Không chỉ sắn, ngô hay mía, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp, thực phẩm dư thừa tại các đô thị lớn cũng có thể trở thành nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học. Xa hơn, Việt Nam còn có thể tận dụng nguồn nguyên liệu từ Lào và Campuchia để hình thành chuỗi cung ứng ethanol mang tính khu vực.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này, ngành nông nghiệp Việt Nam cần vượt qua những điểm nghẽn cố hữu như sản xuất còn phân mảnh, liên kết chuỗi yếu, hạ tầng logistics và chế biến chưa đồng bộ.



