Phát triển kinh tế số tại Việt Nam trong thời gian qua đã được định hướng bởi một hệ thống văn bản chiến lược tương đối đầy đủ và nhất quán, đóng vai trò kim chỉ nam cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Các văn bản tiêu biểu bao gồm Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị; Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022; Nghị quyết số 57-NQ/TW. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng xác định xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Thực trạng quy mô và đóng góp của kinh tế số
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Tô Trung Thành (Đại học Kinh tế Quốc dân), quy mô kinh tế số của Việt Nam đã có sự gia tăng đáng kể trong giai đoạn 2020-2025, với tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 12,66% lên khoảng 14,02%. Theo nguồn từ Cục Thống kê, các ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,42% (tương đương 43,3 tỷ USD) chiếm hơn 60% và các ngành số hóa chiếm 5,6% (tương đương 28,8 tỷ USD) chiếm gần 40% trong tổng giá trị kinh tế số năm 2025 của Việt Nam.
Phân bố không gian và vai trò của các địa phương
Xét theo không gian phát triển, kinh tế số tại Việt Nam có mức độ tập trung cao, với các địa phương công nghiệp như Bắc Ninh và Thái Nguyên dẫn đầu về tỷ trọng kinh tế số trong GRDP, chủ yếu nhờ sự phát triển mạnh của ngành sản xuất điện tử và công nghệ cao gắn với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong khi đó, các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng dù có tỷ trọng thấp hơn nhưng lại đóng góp lớn về quy mô tuyệt đối và đóng vai trò trung tâm lan tỏa chuyển đổi số, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và quản lý đô thị thông minh.
Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội Cù Ngọc Trang, báo cáo sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy, thành phố tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về thương mại điện tử; chuyển đổi số trong khu vực sản xuất, kinh doanh được triển khai thông qua đăng ký doanh nghiệp trực tuyến, hóa đơn điện tử, khai, nộp thuế điện tử, truy xuất nguồn gốc, thanh toán không dùng tiền mặt và hỗ trợ doanh nghiệp trên môi trường số. Thành phố duy trì 100% số hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thực hiện trực tuyến; 99,5% số doanh nghiệp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử; 98,35% số doanh nghiệp, tổ chức thực hiện khai, nộp thuế điện tử; 100% số hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai sử dụng hóa đơn điện tử.
Thách thức về chất lượng và tính đồng đều
Những kết quả phát triển kinh tế số đang từng bước tạo nên những thay đổi đáng kể của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng cho rằng, tổng thể bức tranh kinh tế số Việt Nam chưa có sự đồng đều, phân hóa rõ rệt giữa các ngành và địa phương; chưa tạo ra sự chuyển biến mang tính đột phá về chất trong mô hình tăng trưởng, đặc biệt về năng suất và hiệu quả lan tỏa nội địa. Trong đó, kinh tế số lõi tăng nhanh về quy mô nhưng cải thiện chậm về chất lượng, chủ yếu dựa trên mở rộng quy mô sản xuất hơn là dựa trên nâng cao hiệu quả và hàm lượng giá trị gia tăng nội địa; ngành sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông phụ thuộc rất lớn vào chi phí trung gian; ngành dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông quy mô còn tương đối nhỏ.
Định hướng chiến lược đến năm 2030
Theo ông Thành và cộng sự, kết quả các nghiên cứu cho thấy, định hướng phát triển kinh tế số của Việt Nam đến năm 2030 cần được nhìn nhận không đơn thuần là quá trình số hóa các hoạt động hiện hữu, mà là một chuyển đổi mang tính cấu trúc, trong đó công nghệ số trở thành nhân tố sản xuất cốt lõi, quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Để hiện thực hóa các mục tiêu đến năm 2030 đưa kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, kinh tế số lõi cần chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ; kinh tế số ngành cần số hóa sâu vào chuỗi giá trị; quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số.
Ba trụ cột nêu trên chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được đặt trong bối cảnh các đột phá về công nghệ và không gian phát triển, bao gồm phát triển hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và hình thành các cực tăng trưởng số tại các đô thị lớn, lan tỏa tới các địa phương để kinh tế số không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn là công cụ thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền.
Giải pháp thể chế và chính sách hỗ trợ
Các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, để phát triển kinh tế số trong bối cảnh mới thật sự hiệu quả, cần đổi mới về thể chế, hệ thống pháp lý và các quy định trên cơ sở tiếp tục tinh giản hóa, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, đồng thời cải cách các thủ tục hành chính và cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến; cần cụ thể hóa các mục tiêu về hạ tầng, nhân lực và khung pháp lý cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cần triển khai đồng bộ Luật Giao dịch điện tử, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và dữ liệu cá nhân để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh; áp dụng các chính sách hỗ trợ đặc thù cho sản phẩm “Make in Vietnam” như ưu đãi thuế nghiên cứu và phát triển, ưu tiên mua sắm công.



