Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố Kế hoạch Chuyển đổi số 2026-2030 với mục tiêu đột phá
Ngày 13/2, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã chính thức ban hành Kế hoạch số 447/KH-BDTTG về Chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030. Kế hoạch này đặt ra những mục tiêu cốt lõi nhằm xây dựng một bộ máy hoạt động dựa trên dữ liệu và công nghệ số, hiện đại và minh bạch hơn.
Mục tiêu tổng thể và tầm nhìn chiến lược
Mục tiêu chính của Kế hoạch là hình thành một Bộ Dân tộc và Tôn giáo hoạt động hiệu quả, cung cấp dịch vụ công số chất lượng cao, kết nối liên thông và đảm bảo an toàn thông tin. Qua đó, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng.
Kế hoạch hướng tới việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu chuyên ngành, phục vụ công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo điều hành và xây dựng chính sách. Đồng thời, hỗ trợ người dân và địa phương, góp phần phát triển kinh tế số, xã hội số và thu hẹp khoảng cách số tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Các mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn
Kế hoạch đề ra những mục tiêu cụ thể và mang tính đột phá cho từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2026 - 2027, Bộ phấn đấu đạt 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình. Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến được kỳ vọng đạt 90%.
Đồng thời, 100% thủ tục hành chính nội bộ sẽ được quản trị trên môi trường điện tử và 90% các nền tảng số dùng chung của Bộ được đưa vào sử dụng.
Bước sang giai đoạn 2028 - 2030, tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp được đặt mục tiêu nâng lên 99%. Đặc biệt, 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình sẽ được ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ít nhất một khâu như tiếp nhận, xử lý hồ sơ, hỗ trợ người dùng hoặc ra quyết định tự động.
Mục tiêu này nhằm nâng cao hiệu quả, tốc độ và chất lượng phục vụ. Ngoài ra, 100% cán bộ, công chức, viên chức sẽ thường xuyên sử dụng trợ lý ảo hoặc công cụ số thông minh; 100% lãnh đạo sử dụng chữ ký số cá nhân trong xử lý văn bản và hồ sơ công việc trên môi trường số.
Phát triển kinh tế số và xã hội số vùng dân tộc thiểu số
Kế hoạch không chỉ tập trung vào cải cách hành chính mà còn đặc biệt chú trọng đến việc phát triển xã hội số và kinh tế số. Trong giai đoạn 2025 – 2027, Bộ sẽ thúc đẩy kinh tế số trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các nền tảng cung cấp thông tin, tri thức và hỗ trợ các mô hình kinh tế phù hợp trên môi trường số.
Giai đoạn 2028 – 2030 sẽ tối ưu hóa hoạt động nội bộ, giảm 30% chi phí hoạt động nhờ tự động hóa quy trình và phát triển sản phẩm OCOP của đồng bào dân tộc thiểu số.
Về phát triển xã hội số và thu hẹp khoảng cách số, đến năm 2030, Bộ đặt mục tiêu phổ cập dịch vụ viễn thông và Internet cho 80% đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
Đào tạo nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp
Công tác đào tạo nhân lực số tại cơ sở cũng được đẩy mạnh. Dự kiến đến năm 2030, 100% trưởng thôn, bản, ấp, buôn và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được đào tạo, tập huấn về chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, 80% doanh nghiệp, hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được hỗ trợ tiếp cận công nghệ số để ứng dụng vào sản xuất kinh doanh.
Kế hoạch cũng đặt mục tiêu 100% người được phong chức, bổ nhiệm và hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo sẽ được định danh vào giai đoạn 2028 - 2030.
Giải pháp thực thi với nguyên tắc "6 rõ"
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, Kế hoạch đã đề ra hệ thống giải pháp đồng bộ. Trong đó, xác định rõ vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số theo nguyên tắc "6 rõ": “Rõ người - Rõ việc - Rõ thời gian - Rõ sản phẩm - Rõ trách nhiệm - Rõ thẩm quyền”.
Kế hoạch xác định cụ thể nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi cần tập trung chỉ đạo và bố trí nguồn lực thực hiện. Đặc biệt là nhiệm vụ về cụ thể hóa Khung kiến trúc số của bộ, Khung kiến trúc dữ liệu; hoàn thiện hạ tầng, xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu và phát triển nhân lực công nghệ cao.
Xây dựng cơ sở dữ liệu và đảm bảo an toàn thông tin
Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành chính thức cơ sở dữ liệu về Tôn giáo cũng như các cơ sở dữ liệu về Dân tộc, bao gồm dữ liệu về các dân tộc thiểu số. Đồng thời, đào tạo và bồi dưỡng lĩnh vực dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 2026 -2030 được thực hiện theo hướng tập trung. Quá trình thu thập, số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu đảm bảo nguyên tắc “Đúng – Đủ - Sạch – Sống – Thống nhất – Dùng chung”.
Công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng bao gồm triển khai giải pháp an toàn thông tin tổng thể, tập trung theo mô hình 4 lớp và diễn tập định kỳ. Đồng thời, diễn tập thực chiến bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và ứng cứu khẩn cấp cho hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu.
Phát triển nhân lực số và chính sách thu hút nhân tài
Về nhân lực số, Kế hoạch nghiên cứu áp dụng cơ chế đặc thù về lương, thưởng và chế độ làm việc để thu hút nhân tài công nghệ phục vụ công tác chuyển đổi số. Cùng với đó, tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức và đột phá về đổi mới tư duy.
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ thích nghi với môi trường số, sử dụng dữ liệu và công nghệ hiệu quả.
Triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế số
Về kinh tế số và xã hội số, Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế số trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 – 2030.
Đồng thời, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang lấy ý kiến với dự thảo nghị định về tiêu chí lựa chọn và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), nhằm hỗ trợ tốt hơn cho công tác quản lý và phát triển.



