Chuyển đổi số không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn là chìa khóa để các hợp tác xã, đặc biệt là hợp tác xã nông nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, quá trình này đang gặp nhiều trở ngại.
Khó khăn trong thực tế triển khai
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Minh Trung tại xã Tân Phú, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng mô hình nông nghiệp công nghệ cao cho cây mãng cầu từ năm 2022. Nhờ phần mềm quản lý sản xuất và kết nối với hệ thống phân phối cùng sàn thương mại điện tử, đầu ra luôn ổn định, sản lượng năm 2025 đạt hơn 4.000 tấn, doanh thu vượt 40 tỷ đồng. Dù vậy, sau một thời gian, nhiều khó khăn xuất hiện. Nhiều thành viên chưa quen sử dụng điện thoại thông minh, dữ liệu nhập không thống nhất dẫn đến hệ thống không đồng bộ, có lúc bị bỏ trống. Việc triển khai đồng bộ từ phần mềm quản lý, thiết bị cảm biến đến tem truy xuất nguồn gốc đòi hỏi nguồn vốn lớn, vượt quá khả năng tài chính của hợp tác xã. Ông Lê Minh Trung, Giám đốc hợp tác xã, cho biết trở ngại lớn nhất là nhận thức của nông dân về chuyển đổi số còn hạn chế, cùng với việc thiếu nhân sự chuyên trách thu thập và cập nhật dữ liệu. Vấn đề không phải là phát triển phần mềm mới mà là tận dụng hiệu quả các công cụ có sẵn và thay đổi tư duy để nông dân chủ động tham gia.
Rào cản từ quản lý và nhân lực
Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, phường Chương Mỹ, Hà Nội, là đơn vị tiên phong ứng dụng số hóa với trạm cảnh báo thời tiết iMetos, hệ thống truy xuất nguồn gốc eGap và đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử. Tuy nhiên, chuyển đổi số chưa đạt kỳ vọng do nhiều rào cản. Nguyên nhân chính là chuyển đổi số không chỉ dừng ở thiết bị hay phần mềm mà đòi hỏi tái cấu trúc phương thức quản lý. Đội ngũ quản lý của hợp tác xã còn hạn chế về tư duy và kỹ năng số, thiếu năng lực quản trị dữ liệu, vận hành nền tảng và xây dựng chiến lược kinh doanh số. Do đó, việc số hóa dữ liệu và kết nối tiêu thụ vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ kỹ thuật bên ngoài. Giám đốc Hoàng Văn Thám trăn trở rằng nhiều cán bộ quản lý xem chuyển đổi số là nhiệm vụ phong trào, trong khi thành viên chủ yếu là nông dân lớn tuổi, khó khăn khi sử dụng điện thoại thông minh và cập nhật dữ liệu, dẫn đến quá trình chuyển đổi mang tính chắp vá, thiếu chiến lược dài hạn để vươn tầm quốc tế.
Giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn
Trước làn sóng chuyển đổi số, khu vực kinh tế tập thể không thể đứng ngoài cuộc và buộc phải đổi mới để thích ứng thị trường. Số hóa nông nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn cho thiết bị, phần mềm, truy xuất nguồn gốc, tự động hóa và đào tạo nhân lực, vượt quá khả năng của nhiều hợp tác xã. Lãnh đạo các hợp tác xã cho biết vốn tích lũy hạn chế, tiếp cận tín dụng khó khiến các hạng mục số hóa chỉ dừng ở quy mô nhỏ. Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ thực chất về vốn, đào tạo quản trị số, tư vấn mô hình phù hợp và kết nối với doanh nghiệp công nghệ, thị trường số để xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh dài hạn.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thúc đẩy nhiều chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho hợp tác xã, nhưng từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách. Nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo, tư vấn công nghệ, vốn vay ưu đãi hay xúc tiến thương mại số còn phân tán, chồng chéo, khó tiếp cận. Không ít hợp tác xã lúng túng vì thiếu thông tin, hướng dẫn hoặc không đủ điều kiện thụ hưởng. Một số khác muốn tiếp cận chính sách nhưng khó đáp ứng điều kiện do cơ quan quản lý đưa ra.
Theo Chủ tịch Hội đồng quản trị Liên hiệp hợp tác xã Kinh tế số Việt Nam Mai Quang Vinh, nhiều hợp tác xã không có cán bộ chuyên trách về chuyển đổi số, khiến việc tiếp cận và vận hành công nghệ hạn chế. Nhiều nơi triển khai rời rạc, thiếu minh bạch dữ liệu và hỗ trợ sau đào tạo, dễ bỏ dở. Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Đức Thịnh cho biết quá trình chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể đang đối mặt nhiều thách thức do nguồn lực đầu tư hạn chế, quy mô nhỏ, vốn ít, trong khi chi phí ban đầu lớn. Việc tiếp cận chính sách hỗ trợ còn khó khăn, thủ tục phức tạp. Nhiều hợp tác xã muốn chuyển đổi số nhưng không biết bắt đầu từ đâu, khả năng liên kết với doanh nghiệp công nghệ hạn chế.
Để tháo gỡ điểm nghẽn, trước mắt cần đẩy mạnh đào tạo, nâng cao kỹ năng số cho người dân từ những việc nhỏ và phù hợp. Người đứng đầu hợp tác xã phải coi nâng cao năng lực quản trị số là khâu đột phá, chuyển đổi số bắt đầu từ đổi mới tư duy từ giám đốc đến từng thành viên. Nhà nước cần có cơ chế tín dụng phù hợp cho kinh tế tập thể đầu tư công nghệ. Ông Thịnh chia sẻ: “Mỗi hợp tác xã có thể tốn 200-300 triệu chi phí mỗi năm cho chuyển đổi số. Tuy nhiên, không phải cái gì cũng làm mà cần chọn lọc, làm dần từ cái dễ đến cái khó, ưu tiên những gì gắn với yêu cầu sản xuất.”



