Việt Nam đã có bước đi đúng đắn khi đặt trọng tâm vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cho giai đoạn phát triển đột phá tiếp theo. Một hệ thống đầu tư song hành có thể giúp hiện thực hóa tầm nhìn đó. Nghị quyết số 57-NQ/TW (ngày 22/12/2024) là cam kết mạnh mẽ và toàn diện nhất từ trước tới nay của Việt Nam về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết được bảo đảm bằng nguồn lực cụ thể - ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương 25 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030. Ý chí chính trị đã được khẳng định. Vấn đề then chốt đặt ra là làm thế nào để triển khai hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực sự đến được với các doanh nghiệp, người lao động và hệ thống hạ tầng - những nhân tố có thể biến khát vọng thành tăng trưởng bền vững và tạo ra nhiều việc làm chất lượng cao hơn cho người dân.
Việt Nam đang đứng trước một thách thức đáng suy ngẫm. Một mặt, đất nước đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất công nghệ năng động nhất trong khu vực châu Á - chỉ riêng hoạt động của Samsung đã tạo ra doanh thu tương đương 13% GDP, và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, giá trị gia tăng bình quân từ xuất khẩu vẫn còn ở mức khiêm tốn. Một lao động Việt Nam tạo ra khoảng 6,70 USD giá trị trong một giờ làm việc - chưa bằng một nửa so với lao động Trung Quốc và chỉ bằng một phần tư so với Malaysia. Khoảng cách đó là có thật, và một trong những nguyên nhân chính là công nghệ. Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới, chưa đến 20% doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hoặc tiếp nhận công nghệ được cấp phép từ nước ngoài. Công nghệ đã hiện diện tại Việt Nam, nhưng nó chưa thực sự “bám rễ” vào trong nền kinh tế. Năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp nội địa vẫn còn hạn chế. Các doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu gần 90% linh kiện điện tử từ bên ngoài, thay vì sử dụng nguồn cung trong nước. Gần 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ hoặc hộ kinh doanh - đối tượng có năng lực thấp nhất trong việc tiếp thu công nghệ mới và tiếp cận tín dụng, đồng thời cũng dễ bị bỏ lại phía sau nhất trong làn sóng tăng năng suất do công nghệ mang lại.
Nghị quyết 57 là cơ hội lớn để khai mở những lợi ích năng suất, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Có ba ưu tiên nổi bật, bổ trợ cho tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết, góp phần biến tầm nhìn đó thành hiện thực.
Không chỉ chi nhiều hơn, mà cần chi tiêu hiệu quả hơn
Việt Nam không phải lần đầu đặt ra những mục tiêu đầu tư đầy tham vọng cho nghiên cứu và phát triển. Mục tiêu chi 2% ngân sách cho khoa học và công nghệ trước đây trên thực tế chỉ đạt khoảng 1%. Các doanh nghiệp nhà nước được yêu cầu trích lập tới 10% lợi nhuận trước thuế vào quỹ khoa học và công nghệ. Song phần lớn số tiền đó không sử dụng được, bởi các quy định về mục đích và cách thức chi tiêu được soạn thảo quá chặt chẽ, thiếu linh hoạt và gần như không cho phép chấp nhận rủi ro. Tiềm năng từ việc chi tiêu hiệu quả hơn là rất lớn. Chỉ cần 100 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất giải ngân đầy đủ và hiệu quả nguồn vốn khoa học công nghệ hiện có, tỷ lệ chi tiêu nghiên cứu trên GDP của Việt Nam có thể tăng gần gấp đôi - mà không cần thêm bất kỳ nguồn phân bổ ngân sách nào. Rào cản ở đây là vấn đề hành chính, không phải tài chính.
Nghị định 265 vừa ban hành là bước khởi đầu tích cực. Mở rộng phạm vi được phép sử dụng quỹ khoa học công nghệ sang cấp phép công nghệ, hợp tác với trường đại học và thuê chuyên gia bên ngoài sẽ giải phóng nguồn vốn đang bị "đóng băng" dù đã được cam kết. Hai cải cách bổ sung cũng cần được xem xét: thay thế cơ chế phân bổ hành chính bằng cơ chế cấp phát cạnh tranh qua phản biện khoa học độc lập; đồng thời sửa đổi quy định về ưu đãi khấu trừ thuế đối với R&D 200% để các doanh nghiệp nhỏ có thể thực sự tiếp cận được chính sách này.
Tập trung hỗ trợ có trọng điểm, gắn với yêu cầu kết quả cụ thể
Tham vọng đưa Việt Nam vào nhóm 3 trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu ở ASEAN vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết 57 sẽ khó có thể đạt được nếu dàn trải nguồn lực cho tất cả doanh nghiệp. Điều cần làm là tập trung hỗ trợ những doanh nghiệp có khả năng cao nhất trong việc tạo ra việc làm tốt và thúc đẩy tăng trưởng. Bằng chứng thuyết phục nhất về hướng đi đúng đắn đã có ngay ở Việt Nam. Năm 2015, Bộ Công Thương phối hợp với Samsung triển khai chương trình đưa kỹ sư vào làm việc trực tiếp tại các nhà máy Việt Nam, chuyển giao tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp sản xuất và tri thức thực tiễn. Đến năm 2023, số nhà cung cấp Việt Nam trong chuỗi cung ứng của Samsung đã tăng từ 25 lên hơn 300 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tham gia ghi nhận mức tăng năng suất từ 30 đến 50%.
Mô hình đó - tập trung, thực tiễn, gắn với kết quả đo lường được - hoàn toàn có thể nhân rộng. Chính phủ đặt mục tiêu hỗ trợ 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số vào năm 2030, cùng 200 doanh nghiệp đóng vai trò là "ngọn hải đăng" dẫn dắt từng lĩnh vực. Thành công sẽ phụ thuộc vào tính kỷ luật trong lựa chọn đối tượng và cơ chế giải ngân theo các mốc kết quả có thể kiểm chứng. Nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Ước tính có tới 65% chuyên gia công nghệ giỏi của Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài và gắn kết rất hạn chế với cộng đồng khoa học trong nước. Tập trung đầu tư vào một số các cơ sở đại học tự chủ trọng điểm và tạo ra những vị trí và vai trò thực chất cho các chuyên gia Việt kiều tham gia sẽ là bước khởi đầu để thay đổi thực trạng này.
Đầu tư vào nền tảng có tính bền vững lâu dài
Một số cải cách có tác động sâu rộng nhất trên con đường tiến tới thành công về công nghệ lại nằm ở việc xây dựng hạ tầng nền tảng có tính bền vững. Những khoản đầu tư này sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động bất kể công nghệ được sử dụng là gì. Hạ tầng số là ví dụ điển hình nhất. Các quy định về định vị dữ liệu hiện hành đang buộc doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các máy chủ nội địa chậm hơn, tốn kém hơn, đồng thời hạn chế khả năng tiếp cận các nền tảng điện toán đám mây toàn cầu - nơi tập trung các công cụ trí tuệ nhân tạo tiên tiến. Một đợt rà soát thận trọng - trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu nghiêm ngặt về an ninh dữ liệu - sẽ giúp hạ thấp chi phí ứng dụng số cho những doanh nghiệp cần nhất.
Về logistics, đầu tư có thể giải quyết các hạn chế cạnh tranh hiện tại và mang lại lợi ích thực sự. Chi phí logistics của Việt Nam vẫn cao hơn so với các nước trong khu vực, với thời gian lưu container nhập khẩu dài gấp ba lần so với Singapore. Mở rộng và hiện đại hóa hệ thống Cơ chế Một cửa Quốc gia với tính năng phân tích rủi ro tự động cho các thương nhân đáng tin cậy sẽ giúp giảm chi phí giao dịch một cách đáng kể. Hiệu quả logistics cũng có thể được cải thiện đáng kể thông qua nâng cấp hạ tầng giao thông đa phương thức, đặc biệt ở khu vực xung quanh các cảng, đồng thời khai thác hiệu quả hơn hệ thống đường sắt và đường thủy nội địa cho vận chuyển hàng hóa.
Đầu tư vào năng lượng cũng mang tính chiến lược trong việc thu hút đầu tư công nghệ cao. Các tập đoàn công nghệ hàng đầu, trong đó có các nhà sản xuất bán dẫn, ngày càng yêu cầu đối tác cung ứng sử dụng năng lượng sạch. Mục tiêu 73GW điện mặt trời và 38 GW điện gió vào năm 2030 trong Quy hoạch điện VIII không chỉ hướng tới mục tiêu giảm nhẹ biến đổi khí hậu - đây còn cần được coi là một trụ cột chiến lược công nghiệp.
Nghị quyết 57 đã vạch ra hướng đi đúng. Để chuyển hóa thành kết quả thực chất, điều quyết định là liệu những nhiệm vụ cụ thể như tạo dựng cơ chế tài chính lành mạnh, hỗ trợ có trọng điểm cho doanh nghiệp và người lao động, đầu tư hạ tầng nền tảng có được triển khai nhịp nhàng, song hành với những mục tiêu lớn đã được tuyên bố hay không. Việt Nam đã nhiều lần chứng minh khả năng biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể. Đó chính xác là năng lực mà thời điểm này đòi hỏi.



