Theo một phân tích mới được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), trong 7 tuần chiến tranh vừa qua, quân đội Mỹ đã sử dụng ít nhất 45% kho tên lửa tấn công chính xác (PMS); ít nhất một nửa số tên lửa THAAD, được thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo; và gần 50% kho tên lửa đánh chặn phòng không Patriot.
Theo các nguồn tin nắm được đánh giá nội bộ gần đây về kho dự trữ của Bộ Quốc phòng Mỹ, những con số này gần như trùng khớp với dữ liệu mật của Lầu Năm Góc về kho dự trữ của Mỹ.
Đầu năm nay, Lầu Năm Góc đã ký một loạt hợp đồng nhằm mở rộng sản xuất tên lửa, nhưng theo các chuyên gia của CSIS và các nguồn tin, thời gian giao hàng để thay thế các hệ thống này sẽ mất từ 3-5 năm ngay cả khi năng lực sản xuất được tăng lên.
Trong ngắn hạn, Mỹ có thể duy trì đủ bom và tên lửa để tiếp tục các hoạt động chiến đấu chống lại Iran, trong bất kỳ kịch bản nào, nếu thỏa thuận ngừng bắn không thể duy trì. Nhưng phân tích của CSIS kết luận rằng số lượng đạn dược quan trọng còn lại trong kho dự trữ của Mỹ không còn đủ để đối phó với một đối thủ ngang tầm như Trung Quốc, và có thể sẽ mất nhiều năm trước khi lượng vũ khí này trở lại mức trước chiến tranh.
Trong một tuyên bố với CNN, người phát ngôn Lầu Năm Góc, ông Sean Parnell, cho biết quân đội “có mọi thứ cần thiết để thực hiện các cuộc tấn công vào thời điểm và địa điểm do Tổng thống lựa chọn”.
Ông nói: “Kể từ khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức, chúng tôi đã thực hiện nhiều chiến dịch thành công trên khắp các bộ tư lệnh tác chiến, đồng thời đảm bảo quân đội Mỹ sở hữu một kho vũ khí hùng hậu để bảo vệ người dân và lợi ích của chúng ta”.
Hình ảnh từ video cho thấy một tên lửa được phóng từ tàu chiến của Hải quân Mỹ trong khuôn khổ Chiến dịch Epic Fury nhằm vào Iran, ngày 28.2.2026. Ảnh: Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ.
Theo phân tích và các nguồn tin, quân đội Mỹ cũng đã sử dụng khoảng 30% kho tên lửa Tomahawk; hơn 20% kho tên lửa tầm xa JASSM; và khoảng 20% tên lửa SM-3 và SM-6. Việc thay thế các hệ thống này sẽ mất khoảng 4-5 năm. Theo phân tích cụ thể của CSIS, 7 loại đạn dược chủ chốt, đạn dược tấn công mặt đất tầm xa hoặc đạn dược phòng không và phòng thủ tên lửa, “đã rất hiệu quả trong cuộc chiến này, và do đó chi phí cũng rất cao”. Báo cáo cho thấy Mỹ có thể đã sử dụng hơn một nửa lượng dự trữ trước chiến tranh của 4 loại đạn dược trong số đó.
Về phòng thủ, trước chiến tranh, Mỹ có khoảng 360 tên lửa đánh chặn THAAD, số lượng này đã bị hao hụt do các cuộc xung đột trước đó, và các nhà nghiên cứu ước tính rằng họ đã sử dụng khoảng 190 đến 290 tên lửa trong suốt cuộc chiến, dựa trên thông tin công khai, bao gồm cả các tài liệu ngân sách của Lầu Năm Góc.
Tên lửa đánh chặn PAC-3 dành cho hệ thống phòng không Patriot phổ biến cũng được sử dụng với tốc độ cao, Mỹ bắt đầu chiến tranh với khoảng 2.330 tên lửa và đã sử dụng tới 1.430 tên lửa, mặc dù họ vẫn có thể có các phiên bản cũ hơn.
Trước chiến tranh, Mỹ có hơn 400 tên lửa đánh chặn SM-3 phóng từ tàu chiến và đã sử dụng từ 130 đến 250 tên lửa. Tên lửa SM-6 được dùng ít hơn, với tối đa 370 tên lửa được phóng trong tổng số khoảng 1.160 tên lửa.
Để tấn công, trước chiến tranh, Mỹ có khoảng 90 tên lửa tấn công chính xác (PrSM) và đã sử dụng khoảng 40 đến 70 quả. Đây là loại đạn dược mới hơn, lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu trong cuộc xung đột này.
Một loại đạn dược khác là tên lửa hành trình tấn công mặt đất Tomahawk, theo ước tính của báo cáo, Mỹ có hơn 3.000 quả trong kho trước chiến tranh Iran và đã sử dụng hơn 850 quả trong cuộc xung đột.
Và theo báo cáo, trước chiến tranh, Mỹ có hơn 4.000 tên lửa hành trình tầm xa Joint Air-to-Surface Standoff Missile (JASSM) trong kho và đã sử dụng khoảng 1.000 quả.
Dữ liệu này trái ngược hoàn toàn với tuyên bố gần đây của Tổng thống Trump rằng Mỹ không thiếu bất kỳ loại vũ khí nào, cho dù chính ông cũng yêu cầu thêm ngân sách cho tên lửa do tác động của cuộc chiến tranh Iran đến kho dự trữ hiện có.
Trước khi chiến tranh bắt đầu, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Dan Caine và các lãnh đạo quân sự khác đã cảnh báo ông Trump rằng một chiến dịch quân sự kéo dài có thể ảnh hưởng đến kho vũ khí của Mỹ - đặc biệt là những loại vũ khí hỗ trợ Israel và Ukraine.
Và kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột, các nghị sĩ Dân chủ tại Quốc hội đã bày tỏ lo ngại về số lượng đạn dược được sử dụng và ý nghĩa của nó đối với quốc phòng của Mỹ ở Trung Đông và các khu vực khác.



