Đó cũng chính là nhằm thực hiện tốt một trong những mục tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: “Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Chuyển đổi số – nhiệm vụ bắt buộc
Tại Kết luận số 43-KL/TW ngày 4/6/2026 về tiếp tục thực hiện Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương pháp, quy trình, cách thức tiến hành công tác kiểm tra, mở rộng giám sát bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Trong bối cảnh cùng lúc thực hiện nhiều quyết sách chiến lược, lấy đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt, điều này đồng nghĩa với chuyển đổi số trong Ngành Kiểm tra Đảng không còn là xu hướng mà là nhiệm vụ bắt buộc.
Hình thành “cơ quan kiểm tra số”
Theo đồng chí Nghiêm Xuân Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cụ thể hóa các chỉ đạo của Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đề án số 204 của Ban Bí thư về chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chủ động, quyết liệt trong triển khai chuyển đổi số Ngành Kiểm tra Đảng. Trong đó, mô hình “kiểm tra trên dữ liệu, giám sát trên dữ liệu” được xác định là mục tiêu cốt lõi.
Nhiệm vụ này đòi hỏi ủy ban kiểm tra các cấp phải từng bước chuyển từ kiểm tra thủ công, giám sát theo vụ việc, sang giám sát thường xuyên trên dữ liệu, phân tích dữ liệu lớn, cảnh báo sớm rủi ro, điều hành theo thời gian thực. Đây là yêu cầu đổi mới căn bản phương thức hoạt động của ngành Kiểm tra Đảng.
Khẳng định mọi nhiệm vụ chuyển đổi số đều hướng tới mục tiêu xây dựng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, gắn với cải cách quy trình nghiệp vụ, đồng chí Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho rằng, tinh thần là “đơn giản hóa trước, số hóa sau”; không đưa nguyên trạng quy trình thủ công lên môi trường điện tử; rà soát, tái cấu trúc quy trình theo hướng giảm thủ tục, giảm khâu trung gian, giảm giấy tờ, tăng hiệu quả xử lý công việc.
Mục tiêu số hóa 100% hồ sơ, quy trình
Nhiệm vụ trọng tâm đặt ra tại Kế hoạch số 04 ngày 23/3/2026 về chuyển đổi số trong Ngành Kiểm tra Đảng năm 2026 là số hóa 100% hồ sơ, quy trình kiểm tra và giám sát trên môi trường số. Mục tiêu đi liền với hành động và phải được minh chứng bằng kết quả, được lượng hóa thành sản phẩm cụ thể và đưa vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và xếp loại thi đua hằng năm.
Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, lãnh đạo các đơn vị để xảy ra tình trạng báo cáo không trung thực hoặc thực hiện chuyển đổi số mang tính hình thức, không có sản phẩm đầu ra thực chất, sẽ xem xét tính điểm thi đua tháng, quý, năm và nhiệm vụ thường xuyên. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả chuyển đổi số tại cơ quan, đơn vị.
Hiện tại, cùng 4 phần mềm dùng chung do Văn phòng Trung ương Đảng triển khai (bao gồm Hệ điều hành tác nghiệp; Sổ tay đảng viên điện tử; Hệ thống theo dõi nghị quyết và Hệ thống tiếp nhận, phản ánh, kiến nghị Nghị quyết số 57-NQ/TW), Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chủ động triển khai 13 phần mềm. Trong đó, 6 phần mềm được triển khai từ giai đoạn trước; đã xây dựng xong 4 phần mềm; một số phần mềm đang triển khai phục vụ kiểm soát tài sản, thu nhập; triển khai các quy trình lõi công tác kiểm tra, giám sát trên môi trường số; Trung tâm điều hành, giám sát, kiểm tra trên môi trường số (IOC).
Việc số hóa 18 quy trình nghiệp vụ lõi nhằm đáp ứng ba trụ cột nghiệp vụ trong hệ thống kiểm tra, giám sát: giám sát thường xuyên, phát hiện phòng ngừa vi phạm; kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật của Đảng; theo dõi, đôn đốc thực hiện các thông báo kết luận sau kiểm tra.
Giai đoạn đầu xây dựng và vận hành IOC cho thấy hiệu quả thực chất từ tổng hợp các thông tin dữ liệu liên quan công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng thể theo thời gian thực, phân tích dữ liệu lớn. Qua đó giúp lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện giám sát, chỉ đạo, điều hành trực tuyến, hỗ trợ đưa ra quyết định, hướng tới thực hiện giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu.
Quyết liệt triển khai từ Trung ương tới cơ sở, đến nay Ủy ban kiểm tra các cấp đã đưa vào sử dụng 10 phần mềm ứng dụng và ban hành 18 quy trình nghiệp vụ lõi trên môi trường số; phần mềm cơ sở dữ liệu thống kê Ngành Kiểm tra Đảng được triển khai thông suốt từ 3.681 đơn vị cấp xã và 40 đơn vị cấp tỉnh, với 11.448 tài khoản. Tại cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương, đã hoàn thành chỉnh lý hơn 94 nghìn tài liệu nghiệp vụ, với khoảng 870 nghìn trang, đạt 103,57% kế hoạch giai đoạn 1 của Đề án 204.
“Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên. Kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới” (Trích Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng).
Dữ liệu là công cụ kiểm tra, giám sát mới
Trong bối cảnh đất nước triển khai đồng loạt nhiều định hướng chiến lược với quyết tâm chính trị rất cao và hành động quyết liệt nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, công tác kiểm tra, giám sát được định vị là một phương thức, chức năng lãnh đạo quan trọng nhất để bảo đảm mọi chủ trương của Đảng được thực hiện hiệu quả ngay từ đầu. Dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược góp phần bảo đảm công tác kiểm tra, giám sát, nhất là giám sát thường xuyên được thực hiện chủ động, liên tục, xuyên suốt, góp phần phòng ngừa, phát hiện sớm, cảnh báo vi phạm.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Oanh, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cùng với phương thức trực tiếp thông qua các kỳ họp của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, các cuộc làm việc với cấp ủy, tổ chức đảng, hoặc tiếp xúc, lắng nghe cán bộ, đảng viên, việc giám sát thường xuyên các nghị quyết còn được thực hiện gián tiếp qua phần mềm, cơ sở dữ liệu thông qua khai thác Hệ thống theo dõi tình hình thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương; hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị gửi về ủy ban kiểm tra và Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp của Đảng, hoặc qua VNeID, cùng các hệ thống cơ sở dữ liệu được phép kết nối với các cơ quan nhà nước theo Quy định số 21-QĐ/TW... Qua đó, có thể đối chiếu dữ liệu giữa các nguồn; phân tích dữ liệu để cảnh báo sớm dấu hiệu bất thường, phát hiện chênh lệch, sai lệch trong báo cáo về tiến độ, kết quả thực hiện nghị quyết.
Từ thực tiễn triển khai nhiệm vụ và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng chí Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) khẳng định, trong bối cảnh hiện nay, không thể chỉ dựa vào báo cáo giấy, hồ sơ hành chính hoặc tài liệu được cung cấp tại một thời điểm nhất định, vì thường có độ trễ, khó phản ánh đầy đủ quá trình triển khai, khó kiểm chứng tính liên tục và khó phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát cần chuyển sang phương thức dựa nhiều hơn trên dữ liệu số, bằng chứng điện tử và thông tin được cập nhật thường xuyên trên hệ thống quản lý. Cách tiếp cận này giúp cơ quan kiểm tra, giám sát có thể theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực; đối chiếu dữ liệu giữa tiến độ, kinh phí, sản phẩm, kết quả nghiệm thu và tình hình ứng dụng. Qua đó, việc kiểm tra không chỉ là hoạt động sau khi sự việc đã xảy ra, mà còn trở thành công cụ phòng ngừa, cảnh báo sớm và hỗ trợ quản lý chủ động.
Bằng trải nghiệm thực tế của người làm công tác kiểm tra, giám sát, Phó Vụ trưởng Vụ Địa bàn III, Cơ quan UBKT Trung ương Ngô Thị Thành An cho rằng, chuyển đổi số là một bước tiến quan trọng nâng cao toàn diện phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Song song phát triển nền tảng số, ứng dụng số, dữ liệu số, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát là yêu cầu có tính cấp bách và lâu dài. Để sử dụng và vận hành hiệu quả trên môi trường số, “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”, mỗi cán bộ ngành Kiểm tra Đảng ngoài vững chuyên môn, nghiệp vụ, cần nắm chắc kiến thức công nghệ thông tin, bao gồm cả kiến thức về phần mềm, hệ thống thông tin và các công cụ phân tích dữ liệu. Điều này góp phần bảo đảm tối ưu hóa năng suất, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong tình hình mới.



