Khí phách Việt Nam qua hai lời kêu gọi kháng chiến của Bác
Khí phách Việt Nam qua hai lời kêu gọi của Bác Hồ

Trong khuôn khổ hội thảo khoa học do Bộ Quốc phòng phối hợp với Thành ủy TP.HCM tổ chức vào sáng ngày 5/6, ông Phạm Chánh Trực, nguyên Phó trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM, đã có bài phát biểu sâu sắc về tầm vóc của hai lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khí phách ngàn năm hội tụ trong hai lời kêu gọi

Mở đầu tham luận, ông Phạm Chánh Trực dẫn hai câu thơ: “Bao la là dáng của trời, / Hiên ngang khí phách của người Việt Nam”. Theo ông, khí phách và bản lĩnh của người Việt Nam đã được tích tụ từ hàng nghìn năm văn hiến, truyền từ đời này sang đời khác. Đặc biệt, tinh thần ấy thể hiện rõ nét trong hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, với tư tưởng xuyên suốt “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

“Tuyên ngôn ấy đã trở thành lẽ sống của dân tộc, đã hiệu triệu hết thế hệ này đến thế hệ khác xông lên trận tuyến cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phát triển trường tồn”, ông Phạm Chánh Trực nhấn mạnh.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bối cảnh ra đời và ý nghĩa chiến lược

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến trong bối cảnh chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn sau Cách mạng tháng Tám, khi thực dân Pháp từng bước mở rộng chiến tranh xâm lược trở lại. Đến ngày 17/7/1966, Người công bố Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước trong bối cảnh Mỹ chuyển sang “chiến tranh cục bộ”, đưa quân trực tiếp tham chiến ở miền Nam và leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Ông Phạm Chánh Trực nhận định, tuy hai lời kêu gọi ra đời trong những bối cảnh lịch sử khác nhau nhưng cả hai đều thể hiện tầm nhìn chiến lược, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc và niềm tin sâu sắc vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của Bác Hồ.

Sáu điều tâm đắc từ hai lời kêu gọi

Từ hai lời kêu gọi này, ông Phạm Chánh Trực rút ra sáu điều tâm đắc. Thứ nhất là sách lược nhạy bén của Hồ Chủ tịch và sự thống nhất trong hành động giữa Trung ương với Xứ ủy Nam Bộ. Theo ông, trong khi người đứng đầu Chính phủ tìm cách hòa hoãn, tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc, Nam Bộ đã nổ súng đánh Pháp ngay từ ngày 23/9/1945. Sự kết hợp này tạo thế chủ động cho cả nước bước vào kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

Điều thứ hai là Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ động dự báo âm mưu xâm lược của thực dân, đế quốc. Ông Phạm Chánh Trực cho rằng từ năm 1945, Bác đã thấy trước âm mưu quay lại xâm lược của thực dân Pháp. Sau Hiệp định Genève năm 1954, Đảng cũng nhận diện âm mưu của Mỹ thay chân Pháp ở miền Nam, từ đó chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài. “Đúng như dự kiến của Trung ương Đảng, đánh Mỹ không thể trong một vài năm, mà quân và dân cả nước phải mất đến 21 năm mới có thể đánh bại Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, giành độc lập, thống nhất đất nước”, ông nêu.

Điều thứ ba là đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, dựa vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tinh thần ấy được thể hiện rõ trong lời kêu gọi toàn dân đứng lên cứu nước, mỗi người dân tùy điều kiện của mình đều góp sức vào cuộc kháng chiến.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Điều thứ tư là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, với phương thức linh hoạt theo từng thời kỳ lịch sử và từng đối tượng kẻ thù. Theo ông Phạm Chánh Trực, khi đối đầu thực dân cũ hay thực dân mới, cách mạng Việt Nam đều xác định phương châm đấu tranh phù hợp, kết hợp chính trị với vũ trang, tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Điều thứ năm là tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chủ tịch. “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động và linh hoạt trong thực hiện phương châm này. Nhưng xuyên suốt cuộc đời hoạt động với nghị lực phi thường, Người luôn thể hiện một tư tưởng kiên định mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam là: ‘Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội’”, ông nhấn mạnh.

Điều thứ sáu là khí phách và bản lĩnh Việt Nam. Ông Trực nhìn nhận khí phách này đã được tích tụ qua hàng nghìn năm lịch sử và được thể hiện ở đỉnh cao trong hai lời kêu gọi kháng chiến của Bác.

Giá trị trường tồn của độc lập, tự do

Trình bày tham luận tại hội thảo, PGS.TS Dương Trung Ý, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng biên tập tạp chí Cộng sản, nhìn nhận trong dòng chảy hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, khát vọng độc lập, tự do luôn là giá trị thiêng liêng, tạo nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Theo ông, trong kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là sự kết tinh cao nhất của truyền thống yêu nước Việt Nam, tinh thần nhân văn tiến bộ và khát vọng giải phóng con người trong thời đại mới. “Lời khẳng định ấy không chỉ là khát vọng mãnh liệt, là mệnh lệnh chiến đấu trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn là tuyên ngôn chính trị, là triết lý phát triển và định hướng giá trị cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam cũng như giá trị chung của nhân loại tiến bộ”, ông Dương Trung Ý nhấn mạnh.

Tổng biên tập tạp chí Cộng sản phân tích, “độc lập, tự do” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không dừng ở độc lập lãnh thổ hay chủ quyền quốc gia, mà còn bao gồm độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa và con đường phát triển. Trong kỷ nguyên mới, khi trật tự thế giới có nhiều thay đổi, cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc không chỉ đặt ra trên biên giới địa lý, mà còn hiện diện trong không gian số, chuỗi cung ứng toàn cầu, công nghệ, dữ liệu và quản trị tri thức.

“60 năm trước, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chân lý ‘Không có gì quý hơn độc lập, tự do’, dân tộc Việt Nam đứng trước thử thách sinh tử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khi ấy, độc lập, tự do là mục tiêu chiến đấu, là lời hiệu triệu non sông, là ý chí quyết chiến, quyết thắng và giành thắng lợi. Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất và đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, bởi vậy nội hàm độc lập, tự do cũng được mở rộng, nâng lên tầm cao mới”, ông Dương Trung Ý phân tích.

TP.HCM - nơi khởi đầu và lan tỏa tinh thần Hồ Chí Minh

Ông Lê Quốc Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM, cho rằng những lời hiệu triệu của Hồ Chủ tịch đã khơi dậy, quy tụ sức mạnh dân tộc và thời đại, dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vượt qua khó khăn, gian khổ để giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông Phong nhấn mạnh hội thảo được tổ chức tại TP.HCM mang ý nghĩa đặc biệt vì đây là nơi khởi đầu hành trình tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành vào ngày 5/6/1911. Theo ông, việc nhìn lại hai lời kêu gọi của Người là hoạt động tưởng niệm lịch sử đồng thời góp phần bồi đắp bản lĩnh chính trị, ý chí tự cường và khát vọng phát triển trong giai đoạn mới.

“Dù năm tháng đi qua nhưng tinh thần Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mãi còn nguyên giá trị thời sự, có ý nghĩa như cương lĩnh hành động, kết tinh ý chí bảo vệ độc lập, tự do, khát vọng hòa bình và tinh thần đại đoàn kết của dân tộc”, ông Phong khẳng định.