Quốc hội thảo luận kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030, đề xuất mở rộng đầu tư quốc tế
Quốc hội thảo luận kế hoạch phát triển kinh tế 2026-2030 (10.04.2026)

Quốc hội thảo luận sôi nổi về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, sáng ngày 10-4, Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại tổ về các vấn đề quan trọng liên quan đến kết quả và tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng đầu năm 2026. Phiên thảo luận cũng tập trung vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia cùng giai đoạn. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang đã chủ trì phiên làm việc này.

Đề xuất mở rộng không gian kinh tế ra thị trường quốc tế

Tại tổ số 2, thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi và đưa ra nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trở lên. Đại biểu Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), đã chia sẻ kinh nghiệm từ việc đầu tư ra nước ngoài của Viettel. Ông nhấn mạnh rằng, để đạt được tăng trưởng hai con số, một giải pháp then chốt là mở rộng không gian kinh tế, đặc biệt là ra thị trường quốc tế.

Kinh nghiệm từ Viettel và các tập đoàn lớn khác như Petrovietnam, FPT, Vingroup cho thấy, đầu tư ra nước ngoài không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường mà còn tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Thực tế, tăng trưởng của Viettel trong thời gian qua chủ yếu đến từ thị trường quốc tế, chiếm khoảng 60-70% tổng doanh thu. Từ đó, ông Thắng đề xuất Chính phủ xây dựng một chương trình bài bản về mở rộng đầu tư ra nước ngoài, với ba trụ cột chính: chính sách đối ngoại "mở đường", chủ động tìm kiếm thị trường phù hợp với thế mạnh, và hình thành hệ sinh thái đầu tư có doanh nghiệp đầu đàn dẫn dắt.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Cải thiện hiệu quả đầu tư công và các chỉ số kinh tế

Về vấn đề đầu tư công, đại biểu Tào Đức Thắng chỉ ra sự khác biệt giữa đầu tư công và đầu tư của doanh nghiệp. Ông cho rằng, doanh nghiệp luôn trăn trở để giải ngân nhanh và tăng hiệu suất sử dụng, trong khi đầu tư công thường kéo dài và ít bị ảnh hưởng bởi áp lực tồn vong. Để nâng cao hiệu quả, ông đề nghị đánh giá dự án đầu tư công theo tiêu chí tương tự doanh nghiệp, gắn với dòng tiền và khả năng hoàn vốn, đồng thời siết chặt khâu thẩm định và thiết lập hệ thống KPI cụ thể.

Đại biểu Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), nhận định mục tiêu tăng trưởng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030 là rất tham vọng. Ông chỉ ra rằng, hệ số ICOR của Việt Nam hiện ở mức khoảng 6,4, cao hơn đáng kể so với các nền kinh tế trong khu vực như Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc), cho thấy hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế. Nếu không cải thiện, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội có thể lên tới 33-35% GDP, gây áp lực lớn. Do đó, cần bổ sung các chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng và xác định rõ đóng góp của khoa học - công nghệ.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Đề xuất ổn định vĩ mô và huy động nguồn lực

Đại biểu Trương Minh Huy Vũ đã thảo luận về vấn đề ổn định vĩ mô, cảnh báo rằng lạm phát có thể tăng vào quý 2 và quý 3 do độ trễ của câu chuyện năng lượng. Ông đề nghị Chính phủ và Quốc hội cần theo dõi giá tiêu dùng và có biện pháp hỗ trợ giá đầu vào như xăng dầu và điện. Liên quan đến hấp thụ vốn, ông Vũ đề xuất xây dựng một "bản đồ" để huy động nguồn lực tổng thể trong 5 năm và xem xét việc Thành phố Hồ Chí Minh phát hành trái phiếu quốc tế, đặc biệt cho các công trình trọng điểm như metro, mà không ảnh hưởng đến trần nợ công.

Trong bối cảnh đó, đại biểu Trần Anh Tuấn đề nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần có công cụ ổn định lãi suất, kéo lãi suất tín dụng xuống để khuyến khích kinh doanh và kích cầu kinh tế. Ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các chính sách ổn định tỉ giá để hỗ trợ doanh nghiệp phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, ưu tiên cho các ngành trọng điểm trong đầu tư phát triển.