Nghị định 144/2026/NĐ-CP: 4 điểm mới về thuế GTGT doanh nghiệp cần biết
Nghị định 144/2026/NĐ-CP: 4 điểm mới về thuế GTGT

Theo Chính phủ, Nghị định 144/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi Luật Thuế GTGT, tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn và bảo đảm áp dụng thống nhất giữa cơ quan quản lý với người nộp thuế.

Nghị định 144/2026/NĐ-CP có 4 nội dung đáng chú ý mà tổ chức, doanh nghiệp và người nộp thuế cần lưu ý: bổ sung quy định về bảo hiểm và hoạt động tài chính; điều chỉnh quy định đối với sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản; bổ sung căn cứ xác định tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra; quy định rõ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp.

Bổ sung quy định về bảo hiểm và tài chính

Nghị định bổ sung, làm rõ phạm vi áp dụng đối với nhiều loại hình bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe, người học, vật nuôi, cây trồng, tàu, thuyền, trang thiết bị khai thác thủy sản, tái bảo hiểm và một số hoạt động bảo hiểm trong lĩnh vực dầu khí.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Đáng chú ý, nghị định bổ sung quy định cụ thể các dịch vụ bảo hiểm thuộc diện không chịu thuế GTGT, bao gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm khai thác thủy sản, tái bảo hiểm và một số hoạt động bảo hiểm khác theo quy định pháp luật.

Đối với hoạt động bán nợ, quy định mới bổ sung các khoản phải trả, khoản phải thu và chứng chỉ tiền gửi vào phạm vi điều chỉnh. Hoạt động bán nợ không chịu thuế GTGT nay bao gồm cả giao dịch liên quan đến các khoản phải thu, khoản phải trả và chứng chỉ tiền gửi.

Điều chỉnh quy định về sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản

Nghị định tiếp tục thực hiện chủ trương hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô. Danh mục sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản tại các phụ lục kèm theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP được thay thế bằng danh mục mới. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương sẽ rà soát, đề xuất điều chỉnh để Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

Bổ sung căn cứ xác định tổng doanh thu bán ra

Một điểm mới khác là việc bổ sung căn cứ xác định tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra làm cơ sở thực hiện các quy định về thuế GTGT. Theo đó, tổng doanh thu bán ra bao gồm:

  • Doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (kể cả doanh thu hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT);
  • Doanh thu hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT;
  • Giá trị gia tăng từ hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp âm);
  • Doanh thu của cửa hàng hóa, dịch vụ theo quy định;
  • Doanh thu hoa hồng đại lý bán hàng hóa, dịch vụ, hoa hồng môi giới dịch vụ bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoạt động chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm, doanh thu được xác định theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng mua trả chậm, trả góp

Nghị định quy định rõ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp. Cụ thể, hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên được khấu trừ thuế GTGT đầu vào khi có đầy đủ hợp đồng, hóa đơn và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Trường hợp chưa đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng, người nộp thuế vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tuy nhiên, nếu đến hạn thanh toán mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì phải kê khai điều chỉnh số thuế đã khấu trừ tương ứng. Khi bổ sung đầy đủ chứng từ thanh toán hợp lệ, cơ sở kinh doanh được kê khai khấu trừ bổ sung theo quy định.

Cơ quan thuế đề nghị các tổ chức, doanh nghiệp và người nộp thuế chủ động nghiên cứu, cập nhật các quy định mới để thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20/6/2026.