Đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng

Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Cấp mã số theo hướng nhanh gọn, minh bạch

Tại hội nghị, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt trình bày hai phương án xây dựng dự thảo. Điểm chung của các phương án là thay đổi cách tiếp cận trong cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói: từ quy trình tiền kiểm với nhiều thành phần hồ sơ, nhiều bước xác minh trước khi cấp mã sang mô hình đơn giản hóa thủ tục, tăng cường trách nhiệm quản lý sau cấp mã.

Theo dự thảo, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được rút gọn chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tuyến thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản trong trường hợp từ chối, nêu rõ lý do. Đối với trường hợp thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý được rút xuống còn 2 ngày làm việc.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Việc đơn giản hóa quy trình được kỳ vọng sẽ giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm nguyên tắc không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, tăng tính công khai, minh bạch và phù hợp thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, theo Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt, cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Nền tảng của mô hình mới là hệ thống dữ liệu số. Toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ, đồng thời kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản và các hệ thống liên quan.

“Với mã số phục vụ nội tiêu, thủ tục được rút gọn tối đa. Với xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng tập trung vào những tiêu chuẩn kỹ thuật mà từng thị trường yêu cầu, thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho mọi trường hợp”, ông Huỳnh Tấn Đạt nhấn mạnh.

Đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu phải đáp ứng các quy định của Việt Nam và tiêu chuẩn riêng của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện kiểm tra việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, với thời gian xử lý không quá 10 ngày làm việc.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm uy tín nông sản Việt

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết việc hoàn thiện dự thảo nghị quyết là nhiệm vụ “rất lớn, rất gấp”, trong bối cảnh Bộ chỉ còn hai ngày để hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ theo chỉ đạo. Cùng với việc sửa đổi toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, Chính phủ thống nhất xây dựng một nghị quyết nhằm xử lý ngay những vướng mắc cấp bách trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Điều này càng cần thiết khi vụ thu hoạch sầu riêng tại khu vực Tây Nguyên chỉ còn khoảng 10 ngày nữa bước vào chính vụ, trong khi nhiều địa phương đang gặp khó khăn khi triển khai các quy định hiện hành.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, mục tiêu của nghị quyết là giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; đồng thời bảo đảm truy xuất nguồn gốc, chất lượng và tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu. Bộ xác định ba nhóm vướng mắc lớn cần tập trung tháo gỡ.

Thứ nhất là quy định diện tích tối thiểu 10 ha đối với vùng trồng. Thực tế tại nhiều địa phương, nhất là khu vực Tây Nguyên, số lượng vùng trồng quy mô nhỏ còn lớn, chưa đáp ứng điều kiện này. Dự thảo định hướng cấp mã số trên cơ sở đề xuất của cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, hợp tác xã, tổ chức, doanh nghiệp, không đặt nặng yêu cầu về diện tích.

Thứ hai là quy định liên quan đến cây trồng xen. Trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, các địa phương còn có cách hiểu khác nhau về điều kiện trồng xen, dẫn đến lúng túng trong cấp mã số vùng trồng.

Thứ ba là quy trình cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Quan điểm của Bộ là đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý nhưng vẫn phải kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết: Bộ cơ bản thống nhất lựa chọn phương án 2 của dự thảo, đồng thời tiếp thu một số nội dung phù hợp từ phương án 1. Theo đó, mã số vùng trồng sẽ được cấp trên cơ sở vị trí thửa đất. Trường hợp thửa đất đã có trong cơ sở dữ liệu đất đai sẽ sử dụng thông tin sẵn có; trường hợp chưa có, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận vị trí và diện tích thực tế. “Quy định này vừa bảo đảm an toàn pháp lý cho địa phương trong quá trình cấp mã, vừa tạo thuận lợi cho công tác quản lý sau này”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nói.

Bộ cũng thống nhất bổ sung biên bản tiền kiểm, hậu kiểm và hướng dẫn quy trình kiểm tra trong phụ lục của dự thảo. Với mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, hồ sơ hợp lệ sẽ được cấp trong 2-3 ngày làm việc và thực hiện hậu kiểm sau đó. Với mã số phục vụ xuất khẩu, cơ quan chuyên môn hoặc cấp xã được giao nhiệm vụ sẽ tiền kiểm trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc trước khi gửi danh sách mã số ra nước ngoài.

“Thời hạn 10 ngày là cần thiết để bảo đảm kiểm tra kỹ lưỡng và giữ uy tín cho nông sản Việt Nam. Chỉ cần một vài mã số vi phạm bị nước nhập khẩu trả về cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng”, Thứ trưởng lưu ý.

Theo kế hoạch, từ ngày 15/7, hệ thống cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được triển khai theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tổ chức tập huấn cho các địa phương ngay trong chiều 14/7, yêu cầu cán bộ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ tham gia đầy đủ. Bộ cũng đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai “chiến dịch dữ liệu mã số vùng trồng”, nhanh chóng số hóa, chuẩn hóa thông tin vùng trồng trên địa bàn; đồng thời khuyến khích người dân liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã để hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, giảm số lượng mã số phải cấp và tạo điều kiện xây dựng thương hiệu nông sản địa phương.