Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, điểm hội tụ và nét đặc sắc chính là sự động viên, tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dựa vào sức mạnh toàn dân, phát động và tổ chức toàn dân tiến hành chiến tranh. “Thế trận lòng dân” trong thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy với sự gắn kết và quy tụ sức mạnh của hậu phương với sức mạnh của tiền tuyến. Phát huy tiềm năng và thế mạnh của hậu phương tại chỗ, trên khắp miền Tây Bắc, đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao, Hà Nhì... thi đua phục vụ chiến dịch.
Nhân dân Tây Bắc đóng góp bao nhiêu gạo cho mặt trận Điện Biên Phủ?
Theo thông tin của Hội đồng cung cấp mặt trận công bố ngày 10/7/1954 được TS Lê Trung Kiên (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) trích dẫn, mặt trận Điện Biên Phủ được cung cấp tổng số hơn 25.000 tấn gạo, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác; trong đó, nhân dân Tây Bắc đã dồn tâm huyết và vật lực cho bộ đội 7.310 tấn gạo, gần 400 tấn thịt, 700 - 800 tấn rau xanh. Riêng lượng gạo mà nhân dân Tây Bắc đóng góp chiếm khoảng 27% số lượng phải huy động cho toàn chiến dịch và chiếm 47% lượng gạo sử dụng ngay tại mặt trận. Đó là chưa kể số lương thực mà nhân dân các bản mường trực tiếp đưa đến ủng hộ các đơn vị. Chiến dịch Điện Biên Phủ huy động nhiều dân công miền ngược, miền xuôi, với hàng chục triệu ngày công; hàng chục ngàn lượt xe đạp thồ cùng các phương tiện vận tải khác. Trong đó, riêng nhân dân Tây Bắc huy động hơn 31.000 dân công ngắn hạn, gần 1,3 triệu công làm cầu đường và gần 1.000 ngựa thồ phục vụ chiến dịch. Kết quả đó khẳng định vai trò to lớn của hậu phương, hậu cần tại chỗ, như đúc kết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ tinh thần tích cực phục vụ tiền tuyến của anh chị em dân công, của đồng bào Tây Bắc và đồng bào hậu phương.
Ai là người sáng tạo ra xe thồ chở hàng hóa tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ?
Xe đạp Việt Nam, đặc biệt là xe đạp thồ phục vụ chiến tranh trở thành huyền thoại. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã huy động khoảng 22.000 lượt xe đạp thồ, gần 800 xe thô sơ, hơn 900 con ngựa thồ và xe trâu cùng các phương tiện giao thông khác để chở lương thực, thực phẩm, đạn dược. “Binh chủng xe đạp thồ” biên chế thành từng đoàn theo từng địa phương, mỗi đoàn có nhiều trung đội, mỗi trung đội từ 30 - 40 xe, chia thành các nhóm. Thiếu tướng Lê Mã Lương, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết một trong những người có sáng kiến cải tiến xe đạp thồ giúp chở được nhiều hàng hóa là ông Ma Văn Thắng, người dân tộc Tày - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã Thanh Minh, huyện Thanh Ba cũ, tỉnh Phú Thọ. Ông Thắng được giao chiếc xe Lincon, thời gian đầu trung bình mỗi chuyến chỉ chở được 80-100 kg gạo. Quá trình vượt đèo dốc (chở hàng từ kho Âu Lâu, Yên Bái, lên chân đèo Pha Đin, Sơn La), ông cùng đồng đội nảy ra sáng kiến buộc thêm đoạn tre nhỏ vào ghi đông, nâng mức chở lên 200 kg, thậm chí hơn 300 kg. Kỷ lục thồ hàng của ông được ghi nhận là 352 kg - Ban chi viện chiến dịch đã xác nhận, biểu dương rộng rãi trên toàn mặt trận. Trong chiến dịch, riêng ông Thắng đã vận chuyển được 3.700 kg hàng hoá trên tổng chiều dài 2.100 km đường rừng núi. Xe đạp thồ cải tiến sau đó được phổ biến rộng rãi. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa là địa phương huy động nhiều nhất phương tiện này với khoảng 3.500 chiếc và có các "kiện tướng xe thồ" thường chở hơn 300 kg, như ông Cao Văn Tỵ (315 kg), Bùi Tín (320 kg), Trịnh Ngọc (345,5 kg). Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết trong hồi ký "Điện Biên - Điểm hẹn lịch sử": "Vận tải xe thồ đã trở thành binh chủng vận tải quan trọng thứ hai, đứng sau xe cơ giới".
Cung đường huyết mạch nào nối liền căn cứ địa Việt Bắc với mặt trận Điện Biên Phủ?
Cuối năm 1952, Chỉ thị của Trung ương giao cho Yên Bái nhiệm vụ mở đường 13A từ bến phà Hiên (tỉnh Tuyên Quang) vượt qua đèo Lũng Lô (tỉnh Yên Bái) nối với đường 41 tại ngã ba Cò Nòi (tỉnh Sơn La) để phục vụ mặt trận Điện Biên Phủ. Trong vòng 200 ngày, toàn bộ tuyến đường dài hơn 188 km đã được hoàn thành, sớm hơn dự kiến một tháng. Tuyến đường có kỷ lục về số lượng người lao động cùng lúc trên công trường, hơn 1 vạn người với 1.638.000 ngày công của các lực lượng tham gia. Tuyến đường phải vượt qua 2 đèo cao và hiểm trở là đèo Lũng Lô và đèo Chẹn, cắt qua ba con sông lớn là sông Chảy, sông Hồng và sông Đà với những chiếc phà bằng gỗ và tre nứa buộc lại, trong đó lớn nhất là bến phà Âu Lâu vượt sông Hồng. Đường 13A được coi là tuyến đường độc đạo duy nhất từ thủ đô kháng chiến Tuyên Quang, nơi tập trung hàng viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, nối liền với đường 41 vận chuyển lên Tuần Giáo và Điện Biên Phủ.
Ai là người tự vận hành một khẩu sơn pháo 75 mm bắn hạ pháo 105 mm?
Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ vào tháng 3/1954, Phùng Văn Khầu (1929-2021, người Nùng, quê ở Cao Bằng) được phân công làm Khẩu đội trưởng Sơn pháo 75 ly chiếm giữ Đồi E1. Ngày 23/4/1954, thực dân Pháp mở đợt phản công lớn nhằm chiếm lại Đồi E1. Vũ khí hiện đại và hỏa lực mạnh của quân Pháp đã đánh sập hầm ngụy trang. Đồng đội hy sinh và bị thương gần hết, chỉ còn một mình và một khẩu pháo, ông vẫn kiên cường bám vị trí với khẩu sơn pháo 75 mm, nặng 500 kg, tự mình làm tất cả mọi công đoạn, từ nạp đạn, chỉnh hướng cho đến ngắm bắn. Ông đã bắn trúng 4 khẩu pháo 105 ly và 2 khẩu đại liên của Pháp, tạo điều kiện cho bộ binh xông lên chiếm lĩnh trận địa. Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam đang lưu giữ và trưng bày khẩu sơn pháo này. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



