Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo nhiều chuyển biến tích cực, hình thành nền tảng quan trọng để đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, ba nghịch lý được nêu trong Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ phản ánh những hạn chế cần khắc phục, mà còn nhận diện đúng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay: năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu.
Kết quả quan trọng sau một năm triển khai Nghị quyết 57
Một trong những giá trị lớn nhất sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57 là chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã hình thành nền tảng để bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu. Các điều kiện cơ bản về nhận thức, thể chế, hạ tầng và dữ liệu đã từng bước được thiết lập. Yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc xây dựng hệ thống, mà phải tạo ra hiệu quả thực chất từ chính những nền tảng đó.
Thực tiễn triển khai cho thấy công tác chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện. Nhận thức về chuyển đổi số ngày càng đầy đủ hơn; thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; một số luật quan trọng về dữ liệu, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được ban hành. Nhiều nền tảng số, cơ sở dữ liệu quan trọng đã được hình thành và đưa vào khai thác. Việc gửi, nhận văn bản điện tử, xử lý hồ sơ công việc, họp trực tuyến, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, khai thác dữ liệu dân cư và định danh điện tử ngày càng đi vào thực chất. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin và dữ liệu cũng được quan tâm hơn.
Những kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực của các cơ quan Trung ương và địa phương, mà quan trọng hơn, đã góp phần bảo đảm hoạt động thông suốt của hệ thống chính trị, phục vụ vận hành mô hình tổ chức mới và chính quyền 3 cấp. Chuyển đổi số đang từng bước tham gia trực tiếp vào quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình sẵn có.
Ba nghịch lý chỉ ra điểm nghẽn cốt lõi
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã thẳng thắn chỉ rõ: “Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế và điểm nghẽn cần khẩn trương khắc phục”. Những hạn chế được khái quát thành ba nghịch lý lớn, cùng phản ánh một vấn đề cốt lõi: những điều kiện đã được tạo lập chưa được chuyển hóa đầy đủ thành kết quả thực tế.
Nghịch lý thứ nhất: nguồn lực dành cho chuyển đổi số còn hạn chế, nhưng nguồn lực đã được bố trí lại chưa được sử dụng hiệu quả. Tỷ lệ giải ngân mới đạt hơn 12,2%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chung của cả nước. Trong khi đó, nhiều cơ quan, địa phương, nhất là cấp xã, vẫn thiếu thiết bị đầu cuối, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu. Điều này cho thấy vấn đề không chỉ thiếu nguồn lực mà còn ở năng lực chuẩn bị, tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm về tiến độ.
Nghịch lý thứ hai: đã đầu tư nhiều hệ thống, nền tảng và cơ sở dữ liệu nhưng mức độ liên thông, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa tương xứng. Ở nhiều nơi, cán bộ, công chức vẫn phải thao tác trên nhiều phần mềm, nhập lại cùng một loại thông tin và xử lý những quy trình trùng lặp. Công nghệ vốn phải giúp giảm tải công việc, nhưng trong một số trường hợp lại làm phát sinh thêm thao tác và áp lực.
Nghịch lý thứ ba: quyết tâm chính trị rất lớn nhưng kết quả triển khai ở nhiều nơi chưa tương xứng, còn hình thức, đối phó, thiếu chuyển biến thực chất. Trong cùng điều kiện về thể chế, chính sách, có cơ quan, địa phương thực hiện tốt, trong khi một số nơi vẫn chậm trễ và chủ yếu viện dẫn khó khăn, vướng mắc. Đáng chú ý, tỷ lệ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ và tái sử dụng dữ liệu ở nhiều địa phương lại cao hơn một số bộ, ngành Trung ương.
Từ ba nghịch lý đó, Kết luận đưa ra nhận định có ý nghĩa định hướng: “Ba nghịch lý trên cho thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu”.
Siết kỷ luật thực thi, quy trách nhiệm đến cùng
Khi điểm nghẽn đã được nhận diện đúng, giải pháp cũng phải thay đổi tương ứng. Giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải chuyển mạnh sang nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ xác định yêu cầu trọng tâm là “phải siết chặt kỷ luật thực thi, xác định rõ trách nhiệm, đánh giá theo sản phẩm đầu ra và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu”.
Điểm mới đáng chú ý là trọng tâm chỉ đạo đã chuyển từ quản lý quá trình sang quản trị kết quả. Các cơ quan không chỉ được giao nhiệm vụ, mà còn phải “rà soát từng nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; chịu trách nhiệm đến cùng về tiến độ, chất lượng; không để tình trạng chậm trễ, kéo dài qua nhiều tháng, nhiều quý”. Kết luận nhấn mạnh: “Nhiệm vụ chỉ được xác định hoàn thành khi có sản phẩm cụ thể, vận hành được, có dữ liệu kiểm chứng, có đối tượng sử dụng và tạo ra hiệu quả thực chất”.
Thông điệp này xác lập một thước đo mới cho chuyển đổi số. Một hệ thống thông tin được nghiệm thu nhưng ít được khai thác chưa thể coi là thành công; một cơ sở dữ liệu được xây dựng nhưng không kết nối, không chia sẻ thì chưa phát huy giá trị; một dịch vụ công trực tuyến nhưng người dân vẫn phải nộp lại hồ sơ giấy hoặc kê khai những thông tin Nhà nước đã có thì mục tiêu chuyển đổi số vẫn chưa đạt được.
Lấy dữ liệu, liên thông và hiệu quả phục vụ làm đột phá
Nhóm nhiệm vụ được xác định trong Kết luận cho thấy hướng tạo đột phá trong giai đoạn tới, tập trung vào dữ liệu, nền tảng dùng chung và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trước hết là yêu cầu xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn, văn bản còn nợ đọng và những điểm nghẽn đã được xác định thông qua Kế hoạch hành động 100 ngày. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm “Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”.
Thông báo xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, phải được quản trị theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Việc xây dựng, cập nhật, làm sạch và quản trị dữ liệu được yêu cầu là “trách nhiệm chính trị của mình, không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin”. Đồng thời, ưu tiên hạ tầng và nền tảng dùng chung, hạn chế đầu tư riêng lẻ, trùng lặp sẽ trực tiếp khắc phục tình trạng phân mảnh, thiếu liên thông.
Kết luận đặt ra nguyên tắc: đối với những thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và có thể khai thác, tái sử dụng thì “không yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại”. Chất lượng dịch vụ công trực tuyến phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi phí được tiết giảm, chứ không chỉ bằng số lượng thủ tục được đưa lên môi trường số.
Chuyển đổi số phải chuyển từ “làm nhiều” sang “làm hiệu quả”, từ “đầu tư hệ thống” sang “tạo giá trị”, từ “quản lý quá trình” sang “quản trị kết quả”. Khi mỗi nhiệm vụ đều có sản phẩm, mỗi dữ liệu đều được khai thác, mỗi nền tảng đều phục vụ người dân tốt hơn và mỗi người đứng đầu đều chịu trách nhiệm đến cùng, chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.



